Ngày nay, con
người ta thường hay rơi vào những quan niệm đúng sai, đẹp xấu, hay dở và miệt
mài tranh luận để bảo vệ quan điểm của mình, con người dường như không có lối
ra và không tìm được sự đồng nhất nào bởi chính những quan niệm thuộc về yếu tố
“cảm tính”.
Trong tâm lý học, cảm tính
là một nội hàm bao gồm những cảm xúc bên trong con người, là một quá trình hoạt
động tâm thần, biểu hiện thái độ của con người đối với những kích thích bên
ngoài cũng như từ bên trong cơ thể, đối với những biểu tượng và ý niệm thuộc phạm
vi xã hội cũng như thuộc phạm vi thế giới vật lý. Cảm xúc biểu hiện thái độ
con người đối với thực tế chung quanh và đối với bản thân.
Cảm xúc không thể
tách ra khỏi các quá trình hoạt động tâm thần khác như: tri giác, tư
duy. Cảm xúc phần lớn ở vùng dưới vỏ não (cảm xúc Sơ đẳng bản
năng). Phần nhỏ hơn ở vỏ não, vỏ não chi phối chủ yếu các tình cảm cao cấp. Nhận
thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên của con người, trong đó chúng ta chỉ
phản ánh được những đặc điểm bên ngoài của những sự vật, hiện tượng riêng lẻ
khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta. Nhận thức cảm tính là nhận
thức bằng các giác quan và một cách trực tiếp. Nhận thức cảm tính chưa cho ta
biết được bản chất, quy luật, những thuộc tính bên trong của các sự vật và hiện
tượng, vì vậy mà nó phản ánh còn hời hợt, chưa sâu sắc và còn sai lầm. Nhận thức
cảm tính có 2 quá trình cơ bản, đó là cảm giác và tri giác.
- Nó là quá trình tâm lý (chứ không phải là
trạng thái hay thuộc tính).
- Phản ánh từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật,
hiện tượng (chứ không phản ánh được sự vật, hiện tượng một cách trọn vẹn).
- Phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trực
tiếp (khi sự vật, hiện tượng đang tác động vào giác quan ta).
Tri giác là một quá trình thuộc giai đoạn nhận
thức cảm tính, tri giác có những đặc điểm giống với cảm giác:
- Tri giác là một quá trình tâm lí. Quá
trình này có khởi đầu, diễn biến và kết thúc tương đối rõ ràng.
- Tri giác phản ánh các dấu hiệu bề ngoài của
sự vật, hiện tượng.
- Phản ánh sự vật, hiện tượng một cách trực
tiếp.
Tuy
nhiên, tri giác là sự
chuyển hóa ở cấp độ cao hơn cảm giác nhưng vì là những đánh giá từ góc độ trực
quan sinh động
nên khi vận dụng tri giác
vào việc phán đoán một vấn đề vẫn xảy ra những sai lầm, khiếm khuyết.
Từ những yếu tố trên, cho chúng ta thấy
rằng: Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên của con người, trong đó
chúng ta chỉ phản ánh được những đặc điểm bên ngoài của những sự vật, hiện tượng
riêng lẻ khi chúng trực tiếp tác động vào các giác quan của ta nên nhận thức từ
cảm tính chưa thể đưa đến những kết luận đúng sai khi chưa có sự phân tích, tác
động và đánh giá ngoại vi.
Trong đạo Phật, con người
có Ngũ uẩn là: Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn và Thức uẩn.
Khi thế giới đang còn trong sáng,
Abhidhamma gọi là pháp thực tánh (paramatha-dhamma)
thì Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức như thực, Duy Thức gọi là Viên
thành thực. Khi có Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng uẩn, Hành uẩn, Thức uẩn là do con người bị tham sân si chi phối, lý trí, tình cảm chủ quan chen vào
nên bóp méo cái thực và biến chúng thành uẩn; Abhidhamma gọi chúng là pháp khái niệm (paññatti-
dhamma), còn Duy Thức gọi là biến kể sở chấp.
Trong Tiểu bộ Kinh, Bāhiya sutta có một đoạn ghi
chép rằng: Đức Phật rời khỏi Tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana), đi trì bình khất thực tại Xá Vệ
(Sāvatthi) thì có một vị Bà-la-môn đã già, tên là Bāhiya Dāraciriva, đi tìm kiếm Ngài để hỏi pháp. Khi ấy, Đức Phật
đang ôm bát đi vào giữa các xóm nhà thì Bāhiya Dāraciriva đến gần bên, cúi đầu
xuống chân Ngài khẩn xin: “Bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con, Thiện Thệ hãy
thuyết pháp cho con, nhờ vậy con có thể có được hạnh phúc và an lạc lâu dài”.
Sau khi từ chối hai lần, đến lần thứ ba, Đức Phật đã trả lời “Này Bāhiya! Nếu trong cái thấy, sẽ chỉ
là cái thấy; trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng, sẽ chỉ là
cái thọ tưởng; trong cái thức tri, sẽ chỉ là cái thức tri thì không có ông ở
trong ấy, ông không là chỗ ấy”.
Do vậy, này Bāhiya! Ông
không là đời này, ông không là đời sau, ông không là đời chặng giữa. Như vậy là
đoạn tận khổ đau”.
Đến đây, Đức Phật đã khai thị “năm uẩn đều là không” vì chúng
không thực có, chỉ do ảo giác, ảo tưởng sinh ra. Khi các uẩn được trí
tuệ soi chiếu thì chúng đều là không và trả lại nguyên trạng “tất cả đều như thực”.
Từ những dẫn chứng trên, chúng ta nhận thấy con người
thường vướng mắc vào những quan điểm mang tính cảm xúc, xuất phát từ những yếu
tố mang tính thuộc tính, cảm tính, nhưng chúng ta lầm tưởng nó là chân lý ở góc
độ khoa học (có số
liệu, định lượng) thực chất những nhận định cảm tính chỉ bắt nguồn từ quan điểm
thực tại và bị chi phối bởi những yếu tố chủ quan, nó thường xảy ra khi người
ta nghe, thấy một sự vật, hiện tượng thuộc về trường thẩm mỹ, nghệ thuật, sở
thích, nghị luận xã hội
(như nghe một bài hát, có người sẽ thấy hay, người thấy không hay, nhìn một
cô gái, có người thấy đẹp,
người thấy không đẹp, một thầy giáo dạy học, có người khen
hay có người chê dở, ăn một món ăn, có người chê dở, có người khen ngon..), hoặc những vấn đề nghị
luận xã hội, khi đưa ra cộng đồng cũng có nhiều luồng ý kiến và đó là điều hiển nhiên phải có, nó
xảy ra bởi không có một quy chuẩn cụ thể nào mang tính tuyệt đối đối với những khái niệm dựa
trên cảm xúc.
Đánh giá, nhận
xét bằng cảm tính tuy cần nhưng không phải là cơ sở để khẳng định một sự việc,
một vấn vấn đề là đúng hay sai, điều này được thấy rõ nhất trong quá trình điều
tra và kết án, bởi vì dù người ta có linh cảm và cho rằng ai đó là hung thủ, là
thủ phạm, dù người đó đã bị bắt để phục vụ điều tra nhưng họ chỉ bị gọi là “nghi
phạm”, khi đưa ra xét xử thì gọi là bị cáo, khi bị kết án mới gọi là “phạm nhân”,
tức đã có đầy đủ chứng cứ để khẳng định người này có tội.
Hoặc khi chúng
ta nhìn thấy một người ốm yếu xanh xao, chúng ta sử dụng “cảm giác” để cho rằng
người đó bị bệnh, sử dụng “tri giác” để xâu chuỗi những nguyên nhân dẫn đến sự
gầy gò xanh xao như “thiếu máu, tim mạch, suy dinh dưỡng…” nhưng khi chưa có sự
tác động từ yếu tố ngoại vi (máy móc, thiết bị y tế, yếu tố tâm lý khác…) thì
chúng ta chưa thể khẳng định người đó có thật là bị bệnh hay không.
Thế nhưng con người lại thường có một thói quen đó là
khó chấp nhận khi ai đó phản đối lại quan niệm của mình, mặc dù đó là quan niệm
mang tính “cảm tính” mà quên rằng giữa những khái niệm đó, đều chỉ mang tính
tương đối và phù hợp với một nhóm đối tượng nào đó mà thôi chứ không phải là phù hợp với tất cả, không
phải chúng ta thấy đẹp là người khác cũng thấy đẹp, chúng ta thấy xấu, chúng ta
bắt người khác cũng phải thấy xấu. Điều quan trọng là chỉ cần chúng ta tự
hài lòng với những gì chúng ta cho rằng nó phù hợp với mình mà không cần phải phản kháng hay cố gắng
bảo vệ luận điểm của mình, như thế là chúng ta đã thật sự cảm thụ cái đẹp, cái đúng theo
cách riêng của chúng ta mà không dính mắc từ những quan niệm trái chiều. Bởi suy
cho cùng, việc thao túng hay com góp tâm lý người khác không bằng chúng ta cảm
thấy an
vui, tự tại bằng
một nội tâm không hỗn loạn.
Chính vì “cảm
tính” chỉ mang tính đánh giá sơ bộ bên ngoài chứ không đi sâu vào yếu tố bên
trong nên vẫn còn những hạn chế và khiếm khuyết, “cảm giác” là hình thức phản ảnh
thấp nhất và thay đổi theo thời gian, thời điểm khác nhau, có thể hôm nay chúng
ta thấy điều đó đúng nhưng ngày mai lại thấy nó sai, hôm nay thấy cái này đẹp
nhưng ngày mai lại thấy nó xấu, thế nên việc quả quyết những nhận xét mang tính
cảm tính là “đúng, sai” theo khái niệm tuyệt đối sẽ dẫn đến những sai lầm nếu
chưa có những phân tích, đánh giá nội hàm sự vật hiện tượng.
Dưới góc độ
Tâm lý học, những mâu thuẫn mang tính cảm tính cần được hóa giải bằng phương
pháp cân bằng, dẫn dắt con người nhìn nhận sự vật hiện tượng dưới nhiều góc độ đánh
giá khác nhau, với quan điểm và tư duy mở, tránh hướng con người rơi vào những
nút thắt tư tưởng tuyệt đối.
Đối với góc độ
Phật giáo, cảm xúc, cảm tính là một trong những cái “khổ” nằm trong ngũ uẩn, tuy
tồn tại trong mỗi người nhưng ngũ uẩn đều là “không”, nó chỉ xuất hiện khi con
người bị chi phối bởi những vọng tưởng, chúng ta xây dựng những “đền đài tư tưởng
nguy nga” và dính mắc vào vô số những luận điểm “tốt xấu, đúng sai”. Muốn thoát
khỏi những tranh luận hơn thua, chúng ta phải hiểu được những điều cốt lõi, đối
với người không phải tín đồ Phật giáo thì hiểu rằng “cảm nhận, cảm giác” chỉ là
một sự nhìn nhận, đánh giá cảm tính bên ngoài, nó sẽ không trường tồn mà sẽ bị
thay đổi, bào mòn, biến dạng theo thời gian. Đối với người Phật tử, cần hiểu về
sự vật hiện tượng theo hướng “liễu tri” chứ không phải “tưởng tri”, tức phải hiểu
rõ ngọn nguồn sự vật hiện tượng trên cái nhìn thực tế, không dính mắc, không
bám chấp vào những cảm giác bên ngoài đến mức cực đoan, càng không phải nhận định
một vấn đề chỉ bằng “tưởng tượng, cảm giác” và cho rằng điều đó là sai hay
đúng.
Triết gia Hy Lạp cổ đại Heraclitus có câu “Không ai tắm hai lần trong một dòng sông”, bởi
thoạt nhìn, bằng cảm giác, người ta cứ nghĩ dòng sông cố định là một, không có
sự thay đổi, nhưng thực chất bên trong, dòng nước luôn luôn thay đổi và con người
ta mỗi lần tắm mình trên dòng sông đó đều là một dòng nước khác.
Vạn vật định
hình trong tư tưởng mỗi người dưới nhiều góc độ nhìn nhận và suy luận khác
nhau, “có hay không”, “đẹp hay xấu”, “đúng hay sai” sẽ luôn là những khái niệm
diễn ra không bao giờ dứt, khi vạn vật còn tồn tại thì con người sẽ còn những
tranh luận với những quan điểm của mình, nó như một dòng chảy vô tận từ thế hệ
này đến thế hệ khác, từ người này đến người khác, sẽ thật khó để ra một mệnh lệnh
hay một lời khuyên cho con người ta ngừng lại những quan điểm khác nhau và nó sẽ
chỉ dừng lại khi chúng ta ý thức được rằng những tranh luận từ cái nhìn cảm
tính sẽ không mang lại kết quả gì ngoại trừ tính bảo thủ càng thêm cao, sự bất
an bực dọc càng thêm nặng. Khi chúng ta tổn hao tâm trí, thời gian cho việc
tranh luận những nội dung “vọng tưởng” chủ quan, vô thực, giống như chúng ta cố
nắm chặt một nắm cát trong tay thì nó sẽ làm cho chúng ta mất đi sự bình an từ những
điều đơn giản nhất.
Tác giả: An Tường Anh
Bài viết đăng tải trên các Trang:
https://www.niemphat.vn/cam-tinh-duoi-goc-nhin-tam-ly-va-phat-giao
https://nguoiphattu.com/tin-tuc/cam-tinh-duoi-goc-nhin-tam-ly-va-phat-giao.d-13587.aspx
https://quangduc.com/a75692/cam-tinh-duoi-goc-nhin-tam-ly-va-phat-giao
https://thuvienhoasen.org/a39566/cam-tinh-duoi-goc-nhin-tam-ly-va-phat-giao
https://chuaadida.com/chi-tiet-cam-tinh-duoi-goc-nhin-tam-ly-va-phat-giao-45210/
https://www.rongmotamhon.net/xem-sach_cam-tinh-duoi-goc-nhin_kckdpdsk_show.html
https://thuvienphatviet.com/an-tuong-anh-cam-tinh-duoi-goc-nhin-tam-ly-va-phat-giao/
https://hoavouu.com/a49450/cam-tinh-duoi-goc-nhin-tam-ly-va-phat-giao
Nhận xét
Đăng nhận xét