Theo quan niệm của Phật
giáo Bắc truyền, ngày Thái tử thành Đạo diễn ra vào ngày mùng 8 tháng 12 Âm lịch
hằng năm. Theo Phật giáo Nam truyền, ngày này là ngày trăng tròn tháng Vesak.
Tuy nhiên hiện nay, thời gian diễn ra sự kiện quan trọng này đã được chọn là
ngày 08 tháng 12 Âm lịch và là ngày mang tính phổ biến trong hai truyền thống
Phật giáo Nam Tông, Bắc Tông.
Ngày Thái tử thành Đạo như
một thiên di lịch sử đầy miên mật, vĩ đại và ngập tràn ý nghĩa diệu kỳ trên con
đường tìm đến với sự giải thoát, giác ngộ, đưa con người vượt qua những thống
khổ, tìm đến niết bàn và không còn sợ hãi trong biển bờ sinh tử.
Hôm nay, nhân kỷ niệm mừng
ngày Thái tử thành Phật trọn Đạo (ngày 08 tháng 12 Âm lịch) chúng con, những
người phật tử xin được tưởng nhớ lại những dấu mốc trong cuộc đời thành Đạo của
đức Phật Thích Ca Mâu Ni để cùng nhau gia cố hạnh nguyện tu tập của bản thân
mình.
Thành kính kỷ niệm ngày Đức
Phật thành đạo
Đức Phật từ bỏ cuộc sống
vương quyền để đi đến con đường tầm đạo
Năm ấy, Thái Tử Tất Đạt Đa
tròn 19 tuổi, Ngài từ bỏ tất cả xa hoa, quyền quý của bậc vương giả, từ biệt Phụ
vương, rời bỏ ngai vàng, vợ con… để đi tìm con đường thoát khỏi Sinh – Lão – Bệnh
– Tử hầu tự cứu mình và cứu tất cả chúng sinh sau khi nhìn thấy hình ảnh những
người bệnh tật, già nua, những người đang sợ hãi trước cái chết, và sự thống khổ
của những người đói nghèo.
Sau những tháng ngày tầm
Sư học đạo, chịu mọi khổ hạnh nơi rừng già, Ngài đã thọ giáo các bậc tiên nhân
nổi tiếng như Àlàra Kàlama, Uddaka Ràmaputta và đã đạt đến trình độ tâm linh
như các vị ấy.
Thế nhưng, Ngài biết rằng ở
cõi trời cao nhất là phi tưởng phi phi tưởng cũng chưa phải là cứu cánh giải
thoát vì còn trong Tam giới, cuối cùng, đức Phật đã nhận ra rằng, chẳng cần tìm
cầu bên ngoài mà chỉ nên tìm học ngay ở chính bản thân mình. Ngài đã chỉ cho
chúng ta biết được rằng muốn tự giải thoát mọi khổ đau, thực nghiệm chân lý thì
mỗi người phải “tự thắp đuốc lên mà đi”.
Trong Kinh điển kể lại rằng
đức Phật là người đã tu khổ hạnh đệ nhất, nghĩa là tự Ngài hành xác mình khốc
liệt nhất. Không có những hình thức khổ hạnh nào mà Ngài không thực hành.
Sau 6 năm tu khổ hạnh,
Ngài nhận ra khổ hạnh không giúp Ngài chứng ngộ mà còn nguy hiểm đến tính mạng.
Nếu vẫn tiếp tục đi theo con đường hành xác là sự bảo thủ vô minh. Từ đó, Ngài
đã đi tìm con đường Trung Đạo, đây là cách tu tập không lợi dưỡng nuông chiều tấm
thân bằng thức ăn, vật chất, nhưng cũng không đầy đoạ mình bằng những pháp môn
khắc nghiệt, mà gìn giữ sức khoẻ để tinh thần minh mẫn, đủ sức tu hành.
Đây là lần tỉnh ngộ thứ 3
của đức Phật trên con đường tìm Pháp tu tập. Sau đó, đức Phật đã chọn phương
pháp thiền định cho đến khi chứng đạo.
Trong 6 năm tu khổ hạnh,
Ngài đã cắt đứt mọi nhân duyên và tri kiến thế gian, đồng thời Ngài đã dẹp được
dục lậu, không còn tham đắm với tài, sắc, danh, thực, thuỳ nữa. Những thứ này
chính là một trong ba cái lậu của lậu hoặc. Ba cái lậu đó là: dục lậu, hữu lậu,
vô minh lậu, chính là nguyên nhân của luân hồi sinh tử.
Sau 49 ngày đêm ngồi
tĩnh tọa dưới cội Bồ đề gần dòng sông Ni Liên Thiền. Ngài đã chuyên sâu
vào thiền quán, tu tập tâm ly dục, ly ác pháp, Ngài đã chiến thắng nội chướng lẫn
ngoại ma.
Đến canh một Ngài chứng
Túc mạng Minh; Canh hai Ngài chứng được Thiên nhãn Minh; Canh ba, Ngài quán chiếu
sâu thẳm của vô thỉ vô minh, thấu tột cội nguồn các pháp, tâm Ngài hoàn toàn giải
thoát khỏi Dục lậu (ô nhiễm của dục vọng), Hữu lậu (ô nhiễm sự luyến ái của đời
sống) và Vô minh lậu (ô nhiễm của vô minh), dứt hẳn sinh tử luân hồi, khổ đau vạn
kiếp.
Đến canh tư đêm đó, khi
cơn mưa và sấm sét dần tạnh, nhìn sao mai mọc cũng là lúc Ngài hoàn toàn chứng
được Tam minh, thành tựu ngôi Chính Đẳng Chính Giác và thành Phật với danh hiệu
Thích Ca Mâu Ni. Năm ấy Ngài 35 tuổi, nhằm ngày mùng 08 tháng 12 Âm lịch, năm
584 TCN.
Tiến trình giải thoát của
đức Phật cho thấy sự giải thoát giác ngộ của Ngài là cả một quá trình tuần tự
qua 9 cấp bậc thiền chứng, từ Sơ thiền cho đến Diệt thọ tưởng định, để cuối
cùng đoạn diệt các lậu hoặc, thành bậc Chính Đẳng Chính Giác. Tiến trình này
cũng chứng tỏ không có vấn đề hoát nhiên đại ngộ. Sự thành Đạo của Ngài là cả một
quá trình tu chứng kiên trì lâu dài bền bỉ, luôn luôn hướng thượng như trong
Kinh đã diễn tả.
Con đường thiền định của
Ngài đã diệt tận khổ đau, phiền não. Là yếu chỉ, bí quyết giải thoát tất cả mọi
bộc, mọi lưu, mọi triền, mọi phược, mọi kiết, mọi sử… ngủ ngầm trong hố thẳm vô
thức từ vô lượng kiếp. Là giáo pháp vô năng thắng. Là cái mà từ quá khứ, hiện tại,
vị lai chưa có mặt trên cuộc đời. Như vậy là cái thấy của Bồ tát Tất Đạt Đa đã ở
ngoài sinh tử, đã vượt thoát sinh tử.
Sau khi thành Đạo, Ngài được
mọi người gọi là Phật Cồ Đàm (Gotama Buddha). Đệ tử của Ngài thì gọi Ngài là Đức
Thế Tôn, những người khác gọi Ngài là Tôn Giả Cồ Đàm hay Sa Môn Cồ Đàm. Ngài
cũng được gọi là Thích Ca Mâu Ni (Sakkamuni (P) hay Sãkyamuni (Skt) có nghĩa là
vị Thánh yên lặng bộ tộc Thích Ca.
Về sau, Ngài còn được
tôn vinh qua mười Phật hiệu là Như Lai, Ứng Cúng, Chính Biến Tri, Minh Hạnh
Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ/Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư,
Phật, Thế Tôn.
Tiến trình tu chứng của đức
Phật qua hai giai đoạn
Giai đoạn thứ nhất: Qua 4
tuần thiền định dưới cội Pipphala (Bồ Đề), chứng ngộ 3 minh là Túc Mạnh Minh,
Thiên Nhãn Minh và Lậu Tận Minh. Giải đáp được bài toán giải thoát luân hồi
sinh tử.
Chứng ngộ Tứ đế: Khổ, Tập,
Diệt, Đạo, đưa ra con đường tu tập để đạt trạng thái Niết Bàn chấm dứt khổ đau
là 8 nhánh: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mạng,
Chính tinh tấn, Chính niệm và Chính định. Tiến trình chứng ngộ hoàn toàn này,
thuật ngữ Pàli gọi là Abhisamaya.
Giai đoạn thứ hai: Vào tuần
lễ thứ 7, Ngài chứng ngộ: Chân Như tính (Tathatà), Bất Ly Như tính
(Avitathatà), Bất Dị Như tính (Anatathà), Y Duyên tính (Idappaccayatà) tức Lý
Duyên Khởi, Không tính, Huyễn tính và Bình đẳng tính của thế giới hiện tượng.
Qua tiến trình thực nghiệm
tâm linh, Ngài đã chứng ngộ những điều từ trước chưa ai biết và đến nay những
điều chứng ngộ của Ngài vẫn còn giá trị. Lúc đó Ngài mới thực sự chứng quả Vô
Thượng Chính Đẳng Chính Giác, thuật ngữ gọi là Anuttara-Sammà-Sambodhi trở
thành một vị Phật lịch sử.
Thành kính hướng về kỷ niệm
ngày Đức Phật thành đạo mùng 8 tháng 12 Âm lịch
Ý nghĩa ngày Thái tử thành
Đạo
Đức Phật đã từng nói rằng “Ta
là Phật đã thành và chúng sinh là Phật sẽ thành” cho thấy rằng, mỗi chúng
sinh đều có sẵn Phật tính bên trong, nếu chúng ta biết sống như Phật, nghĩ như
Phật, nói như Phật và làm như Phật thì chúng ta đều có thể thành Phật, không có
sự loại trừ hay phân biệt là ai, là chủng thể nào.
Thế nhưng điều đó nghe tuy
dễ nhưng không dễ vì không có nghĩa là ai cũng có thể thành Phật nếu không nuôi
dưỡng tâm từ bi, không có tinh thần hướng thượng, không tìm được cho mình con
đường đoạn diệt mọi khổ đau, đoạn diệt “Tham – Sân – Si” vốn là tường thành
kiên cố trong mỗi con người và nếu không “Sống và làm đúng như lời Phật dạy”.
Con đường để mỗi chúng
sinh đến được với Phật không phải ngày một ngày hai, bằng lời nói hay chỉ bằng
việc làm đơn thuần bề nổi mà phải là sự giao thoa kết hợp từ nhiều yếu tố của sự
thông tuệ, thiện lành, từ ngôn ngữ cho đến hành động, từ ý nghĩ cho đến hành
trì, nếu không có sự tu tập miên mật, bền bỉ hoặc thiếu đi tính chân thật, thuần
thành thì cũng không thể trở thành Phật được.
Ngày Phật thành Đạo chính
là một sự kiện có ý nghĩa trọng đại trong lịch sử văn minh nhân loại, Ngài đã mở
ra con đường khai quang tối thắng, tận diệt khổ đau. Trải qua nhiều khắc nghiệt,
thử thách, Ngài đã tìm được con đường giải thoát chúng sinh khỏi những mê lầm,
chấp ngã, thoát khỏi sợ hãi từ những viễn mộng trong cuộc sống tha nhân.
Đức Phật đã chiến thắng ma
quân, Ngài đã mở cánh cửa bất tử cho tất cả chúng sinh và Ngài cũng đã chứng
minh mọi chúng sinh đều có khả năng giác ngộ, giải thoát, đây cũng chính là dịp
để cho các tăng ni, phật tử hiểu thêm về cuộc đời hành đạo của đức Phật.
Giúp chúng ta hiểu được
quá trình mà đức Phật vượt qua khó khăn, thoát khỏi mê, ái, dục, chuyển hóa nội
tâm và mang đến lợi ích cho nhân loại, hướng đến một tâm hồn rộng mở, phát triển
trí tuệ và cuối cùng tìm được con đường Trung Đạo giúp con người tìm được sự an
lạc ở chính trong tâm của mình.
Tại Việt Nam, ngày Phật
thành Đạo thường được tổ chức long trọng, trang nghiêm và kết hợp nhiều hoạt động
văn hóa có ý nghĩa, đồng thời cũng là dịp tổ chức đại lễ cầu nguyện cho quốc
thái dân an, mưa thuận gió hòa, quốc gia hưng thịnh.
Ngày nay, Bồ đề tọa nơi đức
Phật thành Đạo đã trở thành Di sản Văn hóa Thế giới, được tổ chức UNESCO công
nhận và là một trong bốn Tứ Động Tâm hay bốn Thánh tích quan trọng nhất của người
phật tử khắp năm châu.
Trong tiếng Anh, người ta
chỉ dùng chữ Holy Places (tức Thánh địa) để chỉ cho nơi này chứ không có từ
tương xứng như từ Tứ Động Tâm. Tứ Động Tâm có nghĩa là những nơi khiến cho người
nào một khi tới đó thì đều cảm thấy xúc động, tâm trí xao động, hướng thiện,
làm lành tránh dữ, xa rời việc ác.
Bằng sự chứng thực, đa số
người con Phật khi đến bốn Thánh Tích đó (Vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Phật Đản sinh; Bồ
đề đạo tràng, nơi Phật thành Đạo; Vườn Nai, nơi Phật thuyết pháp đầu tiên; Câu
Thi Na, nơi đức Phật Niết bàn) đều rơi lệ, tâm hồn thổn thức, Bồ đề tâm càng
tăng trưởng.
Nhân ngày Lễ Phật thành Đạo,
mỗi phật tử bày tỏ lòng tôn kính, mộ đạo của mình bằng cách lan tỏa những điều
lành, ăn chay, niệm Phật, hồi hướng và gieo trồng công đức, bố thí cúng dường,
phát tâm làm những điều thiện nguyện nhằm lan tỏa ánh sáng từ bi của Phật, hóa
giải mọi đau thương, thù hận, mang đến tình đoàn kết yêu thương, nguyện cầu cho
mọi chúng sinh đều giữ được trong mình hạt mầm của Phật!
Cùng nhau góp phần xây dựng
đời sống Phật pháp được rạng rỡ, thuần thành, cùng sống an vui và làm những điều
tốt đời đẹp đạo!
Bài viết hoan hỷ gieo duyên trên các Trang"
https://www.niemphat.vn/thieng-lieng-ngay-phat-thanh-dao
https://nguoiphattu.com/tin-tuc/thieng-lieng-ngay-phat-thanh-dao.d-13948.aspx
https://baophapluat.vn/thieng-lieng-ngay-thai-tu-thanh-dao-post502146.html
Nhận xét
Đăng nhận xét