Trong đời mỗi chúng sinh,
đặc biệt là con người, sinh tử vẫn là điều làm cho chúng ta bất an, lo sợ nhất,
dẫu biết rằng không ai thoát khỏi quy luật này, không ai có thể tồn tại mãi mãi
mà không hề chết, thế nhưng chúng ta vẫn cảm giác như cái chết là điều gì đó rất
xa xôi, xa xôi bởi không ai đoán biết được nó sẽ đến lúc nào, ai cũng nghĩ sự sống
mình là kéo dài, chính vì vậy mà con người ít khi nhìn lại những lỗi lầm, những
việc ác để né tránh, dường như chúng ta hiếm khi nhận ra mình đang làm một điều
gì đó sai mà thường chúng ta nghĩ việc làm của mình là đúng, là thuận theo lẽ tự
nhiên và con người cứ thực hiện nó như một quán tính “sinh tồn”, chính vì vậy
mà người ác không nhận ra nghiệp ác, người sai không nhận thấy mình sai.
![]() |
Ảnh minh họa, nguồn internet |
Người sát sanh không nhận ra sự đau đớn của loài vật, không cảm động trước sự sợ hãi của chúng nên mới thản nhiên giết hại chúng một cách dã man. Người trộm cướp, lừa đảo không quan tâm đến sự khổ sở của người bị mất đi của cải mà chỉ biết ra tay trộm cướp, lừa đảo để tước đoạt tài sản người khác. Người tham nhũng không ý thức đến sự thất thoát tiền bạc sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho cơ quan, tổ chức, thiệt hại cho xã hội. Người làm hàng gian hàng giả bất chấp sinh mạng con người để trục lợi cho bản thân, người bè phái nói xấu, hãm hại người khác lại lấy đó làm vui, nhằm thỏa mãn sự đố kỵ thù hằn và còn hàng trăm nghìn những việc làm sai trái, gieo rắc mầm mống tội ác đang diễn ra hằng ngày từ chính lòng tham, sự vô cảm, tàn ác của một bộ phận con người và họ thản nhiên với chính lỗi lầm, tội ác đó, họ cho rằng nó bình thường, có thể họ biết hoặc không biết đến nhân quả nhưng vẫn bỏ qua, có thể họ cho rằng cuộc sống còn dài nên chưa cần nghĩ đến ngày phải sám hối, và có lẽ họ không nghĩ đến việc làm ác của họ, sau khi chết đi sẽ gây ra nghiệp báo nào và con người thường nghĩ rằng chỉ cần vun bồi, tham đắm cho lúc sống bởi sau khi chết đi là hết, là không còn điều gì liên đới nữa. Sở dĩ con người không sợ việc làm ác bởi lẽ ít ai tin vào địa ngục, tin vào thuyết luân hồi, xét ra điều này cũng có lý do của nó, bởi khi còn sống thì đâu ai biết được khi chết sẽ gặp điều gì và người đã chết cũng đâu ai có thể sống lại để kể cho người sống nghe những điều họ đã gặp, trừ một vài trường hợp hy hữu được cho là “sống lại sau khi chết” và câu chuyện về họ, dường như cũng ít người được nghe, được biết, thậm chí có nghe, cũng ít người muốn tin.
Chính vì con người thường né tránh khi nghĩ đến những điều
“xui rủi” và người ta cũng
miễn cưỡng khi nghĩ đến nhân quả, nghĩ đến tái sinh nên thường có những việc làm rơi vào đường ác. Bài
viết này không nhằm mục đích khẳng định những khám phá về linh hồn, về thuyết
luân hồi sau khi chết đi là có
thật hay không và cũng
không phủ định cũng như tuyệt đối hóa những dẫn dụ xung quanh các tình huống nêu ra, bài viết
với mục đích cung cấp
những thông tin để mỗi người chúng ta có cái nhìn đa chiều hơn về thế giới đầy
bí ẩn mà chúng ta đang sống và
sau khi mất đi, để từ đó, mỗi người chúng ta có những ý thức sống tích cực,
biết cân nhắc, nhìn lại
việc làm hằng ngày của mình để
thay đổi và sửa chữa bởi không ai dám khẳng định rằng “chết là hết” như
những gì chúng ta vẫn nghĩ.
1. Linh hồn con người có tồn tại không?
1.1. Dưới góc nhìn khoa học
Theo Giáo sư Bruce
Greyson, trưởng khoa Nghiên cứu tri giác (DOPS) thuộc Đại học Hệ thống Y tế
Virginia (Mỹ), trải nghiệm cận tử xảy ra ở 10% bệnh nhân bị ngừng tim. Khi tỉnh
lại, người bệnh có thể mô tả chính xác mọi hoạt động xung quanh khi họ bất tỉnh.
Điều đáng nói là trong nhiều trường hợp trải nghiệm cận tử, điện não đồ và các
bằng chứng y khoa khác cho thấy, não bệnh nhân không còn dấu hiệu hoạt động khi
hiện tượng này diễn ra.
Nghiên cứu của Giáo sư
Peter Fenwick, Viện Tâm thần học thuộc Đại học Kings (Anh), cho biết: "Nếu
có thể chứng minh rằng con người vẫn tiếp nhận thông tin khi họ bất tỉnh và
thoát xác thì đó là bằng chứng không thể tranh cãi về việc ý thức tồn tại tách
rời bộ não".
Quan điểm truyền thống cho
rằng, ý thức của chúng ta được hình thành từ mạng lưới hàng tỷ nơron. Nhưng hai
Giáo sư Stuart Hameroff (Đại học Arizona, Mỹ) và Roger Penrose (Đại học Oxford,
Anh) đã xây dựng một lý thuyết khác, theo đó ý thức còn là sản phẩm của quá
trình tính toán lượng tử diễn ra ở vi ống, một dạng cấu trúc siêu nhỏ của tế
bào não.
Một công trình của Anirban
Bandyopadhyay (Viện Khoa học Vật liệu Quốc gia Nhật Bản) còn hé mở khả năng các
bít thông tin lượng tử có thể gắn kết trong môi trường nhiệt độ cao của các vi ống
đơn lẻ ở tế bào. Trạng thái gắn kết giữa các vi ống được tạo ra nhờ năng lượng
sinh học.
Khi quá trình cung cấp máu
và oxy ngừng lại, sự gắn kết không còn, nhưng thông tin lượng tử không mất đi.
Nó có thể phát tán vào vũ trụ, tồn tại và tiếp tục hoạt động dưới một hình thức
nào đó. Nếu bệnh nhân được cứu sống, thông tin sẽ được não tiếp nhận trở lại. Nếu
như giả thuyết này là đúng, thì câu hỏi đặt ra là: Quá trình lượng tử tạo thành
ý thức xuất hiện từ đâu? Theo Giáo sư Penrose và một số nhà khoa học, quá trình
này là từ vụ nổ lớn Big Bang. Theo quan điểm này, mọi dạng ý thức đều được tạo
ra cùng thời điểm với vũ trụ. Và nếu linh hồn có tồn tại thì nó cũng gắn với khởi
nguồn của vũ trụ.
Ý tưởng của Giáo sư
Penrose ám chỉ đến một cơ chế để ý thức tiếp tục tồn tại sau khi thân thể con
người đã chết. Nhưng nó sẽ đi về đâu? Theo Giáo sư Hameroff: "Nếu người bệnh
không được cứu sống, ý thức sẽ đi vào vũ trụ và biết đâu có thể một ngày nào đó
sẽ được một cơ thể khác tiếp nhận trở lại".
DOPS hiện đang lưu giữ khoảng
1.400 hồ sơ về các trường hợp được cho là thuộc dạng này. Phần lớn đó đều là những
đứa trẻ nhớ được tiền kiếp. Các em có thể kể vanh vách trước đây mình là ai, sống
ở đâu, làm gì, trông như thế nào và nhiều chi tiết khác.
Theo nghiên cứu của nhà
khoa học Catherine, sau khi con người qua đời, linh hồn sẽ sang một không gian
khác. Không gian mà linh hồn sẽ đến sau khi con người chết mà nhà khoa học
Catherine nhắc đến nằm ở giữa các trường điện từ, tức là trường lượng tử.
Từ năm 1996, Tiến sĩ Stuart Hameroff, nhà
vật lý – Giáo sư danh dự của khoa gây mê và tâm lý học và Ngài Roger Penrose, một
nhà vật lý toán học của đại
học Oxford, cùng nghiên cứu về thuyết lượng tử trong nhận thức đã tuyên bố là
linh hồn vẫn tồn tại trong những vi ống nhỏ (micro-tubules) của các tế bào não.
Nhiều nhà tư tưởng Tôn
giáo từ thời cổ đại tin rằng mỗi người đều có một linh hồn. Quan điểm này được
nhà triết học Plato (424 - 348 trước Công nguyên) và René Descartes ở thế kỷ 17
ủng hộ.
Dưới góc nhìn của Thạc sĩ
Vũ Đức Huynh, tác giả của nhiều
cuốn sách về tâm linh và cổ học phương Đông khẳng định, vòng hào quang không phải
linh hồn mà là vòng trường sinh ai cũng có, độ rộng hay hẹp là do năng lượng
tích lũy của từng người. Vầng hào quang là trường sinh học mang điện tích âm,
do sức hút, sức ràng buộc của vòng vía. Vía mang điện tích cả âm và dương.
Trong vía có thần thức mang điện tích dương và trong thần thức là phách. Phần hồn
bao gồm: Vía + Thần thức
+ Phách.
Sau khi chết 49 ngày, phần
hồn chuyển dạng sang thành vong hồn với cấu trúc tầng nấc là: Thần thức ở trên
mang thuộc tính dương; Vía ở phần giữa có cả hai phần mang thuộc tính âm và
dương; Phách ở tầng dưới vì độ đậm đặc nhất mang thuộc tính âm. Cấu tố thần thức
loãng và nhẹ, song lại là cấu tố chủ đạo của vong hồn. Ba cấu tố này liên kết với
nhau bằng mối liên kết lỏng. Liên kết lỏng nhất là giữa phách với vía và thần thức. Phách dễ dàng tách ra khi gặp
điều kiện thuận lợi. Nghĩa là lúc đó vong hồn có thể tách làm hai: một gồm vía
và thần thức, một chỉ có phách.
Ngoài trải nghiệm cận tử,
“Vũ trụ toàn ảnh” cũng ghi nhận một số trường hợp hồn lìa khỏi xác, giới chuyên môn gọi là trải
nghiệm ngoài cơ thể (Out of Body Experience, OBE). Linh hồn một số người có thể rời thân thể, đến một
nơi cách xa hàng ngàn dặm, thậm chí tiến nhập vào một không gian, thời gian khác. Hiện tượng này (giới
tu luyện gọi là “Nguyên
thần ly thể”) đều được ghi chép trong các trường phái tu luyện Phật gia và Đạo
gia ở Trung Quốc.
Trên thực tế, hiện tượng “Nguyên thần ly thể” chỉ là một
phần rất nhỏ trong một bức tranh rộng lớn hơn. Đó là bức tranh của sự luân hồi.
Trong những năm gần đây, giới y học phương Tây đã làm rất nhiều nghiên cứu để kiểm chứng hiện tượng này.
Phương pháp phổ biến nhất là khiến con người rơi vào trạng thái thôi miên, mê
mê tỉnh tỉnh như trong phương pháp thiền định của Đạo gia hoặc Phật gia, để họ
có thể nhìn thấy từng đời từng kiếp trước của mình, thậm chí cả quá trình trung
gian trước khi luân hồi chuyển thế. Đây được gọi là phương pháp thôi miên hồi
quy tiền kiếp.
Một nghiên cứu đi sâu vào
vấn đề này đã được một bác sĩ người Mỹ tên Duncan MacDougall tiến hành vào năm
1907. Kết quả thu được, đăng trên các tạp chí y khoa đương đại, cho thấy các bệnh
nhân hấp hối đã mất trung bình 21 gram vào đúng thời điểm tử vong. Dựa vào đó,
bác sĩ MacDougall kết luận sự sai biệt này bằng đúng khối lượng của linh hồn, một
thực tế thú vị đã được nhắc lại trong bộ phim đầy kịch tính “21 Grams” vào năm
2003.
1.2. Linh hồn người chết trong
quan điểm Phật giáo
Theo Phật pháp, con người sau khi chết
linh hồn sẽ bắt đầu rời khỏi thể xác. Tuy nhiên, lúc này thần thức vẫn còn
quanh quẩn ở nhà và bị rơi vào trạng thái tối tăm mù mịt. Đây được gọi
là giai đoạn “Thân
Trung Ấm”.
Hồn là điểm linh quang,
lương tri, trọn lành, Phật tánh
hay Thiên tánh, có
trách nhiệm nhắc nhở cho Trí biết điều hay lẽ phải, hướng thiện.
Trí chính là bản ngã thực
sự sẽ chịu trách nhiệm với các nhân duyên nghiệp quả của mình. Trải qua nhiều đời
nhiều kiếp, Trí càng được học hỏi, trau dồi ngày thêm tinh tấn, hướng tới tận
thiện tận mỹ.
Xác là tinh Cha huyết Mẹ cấu thành, được nuôi sống bởi vật chất
nên khi hết thọ mạng thì nó trở về với cát bụi do nó là các chất giả hợp tạo
nên hình hài.
Trí và Hồn luôn song hành
với nhau, gọi chung là linh hồn hay chân hồn.
Phật giáo nhìn nhận rằng
thế giới phàm của chúng sinh, bao gồm có 6 cõi đó là: Thiên, Người, Atula, Bàng sanh (như bò, ngựa, kiến, muỗi và
các động vật khác), Ngạ quỷ và Địa ngục, trong 6 cõi này thì chúng sinh cứ được sinh ra rồi lại
chết đi, chết đi rồi lại sinh ra, được gọi là Lục đạo luân hồi, vì vậy mà sau khi
người ta chết đi thì sẽ có 1/6 khả năng có thể sẽ trở thành ma quỷ. Phật
giáo có thể khiến con người giải thoát và siêu xuất khỏi vòng sinh tử của luân
hồi, đó cũng chính là điều người ta gọi là siêu độ.
Theo giáo lý Phật giáo,
con người có năng lực vi diệu được chuyển từ kiếp này qua kiếp khác, năng lực ấy
được gọi là Yid Kyi Mawpar Shespa, một danh từ rất đặc biệt phức tạp mà thông
thường được hiểu như cái gọi là Linh hồn. Đó chỉ là danh từ tạm dùng để hiểu thuyết luân hồi theo luật
Karma (nghiệp). Đặc biệt là môn học Vi diệu pháp thì không có một linh hồn nào
trong con người. Con người gồm 2 phần Sắc uẩn (các bộ phận cơ thể) và Danh uẩn (các trạng thái tâm lý). Vi diệu
pháp quan niệm đời sống con người là tiến trình phối hợp giữa các trạng thái vật
lý (của Sắc uẩn) và trạng
thái tâm lý (của Danh uẩn)
biến đổi theo nhân duyên (tùy thuộc điều kiện). Danh uẩn gồm Thọ uẩn (các trạng thái cảm giác), Tưởng uẩn (các trạng thái tưởng tượng),
Hành uẩn (các trạng
thái tâm hoạt động), Thức uẩn
(ý thức chủ) cùng sinh, cùng diệt tùy theo điều kiện phát sinh trong cuộc sống.
Đa số những lầm tưởng về một linh hồn, cái ngã mà con người tưởng tượng ra là
do Tưởng uẩn hoạt động.
Có 2 vấn đề chi phối đời sống tâm lý con người là Nghiệp và “Sự tùy thuộc phát
sanh của Thức”.
Tuy nhiên, quan niệm Phật
giáo cho rằng cái chết của con người không phải là sự kết thúc, mà là sự bắt đầu
của một sự sống mới. Sau khi chết, con người sẽ tái sinh vào một trong sáu cõi
tùy thuộc vào Nhân đã tạo trong đời hiện tại. Nếu con người có Nhân tốt, họ sẽ
tái sinh vào cõi Trời.
1.3. Lý do khiến cho người chết
không được siêu thoát
Bên cạnh đó, cũng có rất
nhiều những quan niệm về linh hồn người đã chết không được siêu thoát, theo góc
nhìn tâm linh, những nguyên nhân đó là do người chết không theo quy luật sinh tử
tự nhiên mà tự tìm đến cái chết trong sự đau khổ, bực dọc, những người chết
oan, chết đột ngột do tai nạn, bị sát hại…vì những lý do đó mà linh hồn người
đã khuất không thể siêu thoát, họ vẫn lởn vởn quanh nơi họ đã từng sống, lang
thang ngay tại nơi họ mất, từ đó xuất hiện nhiều những hiện tượng lạ mà người
ta cho rằng đó là oan hồn người đã khuất, là “hồn ma”. Hoặc cũng có trường hợp,
khi còn sống, người đó gây ra nhiều nghiệp ác, bản chất hung dữ nên khi chết
cũng trở thành những vong linh thường hay quấy nhiễu người sống, vì vậy mà
trong Phật giáo có Lễ cầu siêu, nhằm thể hiện tinh thần từ bi, siêu độ, giúp vong
linh người đã khuất được vãng sanh, siêu thoát, không còn lưu luyến, đau buồn,
giận dữ bám chấp nơi
cõi phàm trần.
2. Những câu chuyện về sự luân hồi
Xuyên suốt lịch sử nhân loại đã có vô số trường
hợp những người nhớ được các kiếp sống trước của họ, một số nền văn hóa thậm chí còn coi luân hồi là một thực
tế không phải bàn cãi. Chính vì sự bí ẩn vô tận đó nên Giáo sư Ian Stevenson và
người học trò là Tiến sĩ
Jim Tucker từ Đại học
Virginina đã dành hàng thập kỷ nghiên cứu chủ đề luân hồi, ông đã đi khảo sát
và kiểm chứng hơn 3.000
trường hợp luân hồi được tuyên bố ở trẻ em. Trong nhiều trường hợp, hầu hết các
đứa trẻ có thể nhớ lại chính xác đến kinh ngạc các chi tiết về cuộc đời trước
đây của chúng.
Vậy thì luân hồi đã xảy ra
như thế nào và có thật hay không, bài viết này xin chia sẻ một số câu chuyện
sau đây:
2.1. Câu chuyện về Giáo sư bác sỹ George G. Ritchie
(25/9/1923 – 29/10/2007)
Ông từng là chủ tịch của Học viện Trị liệu
đa khoa Richmond, từng là Trưởng
khoa Tâm thần học của Bệnh viện
Towers, người sáng lập và và chủ tịch Liên Đoàn Thanh niên Thế giới (Universal
Youth Corps, inc) trong gần 20 năm. Vào tháng 12 năm 1943, George Ritchie đã chết trong
một bệnh viện quân đội ở tuổi 20 vì bệnh viêm phổi và đã được đưa vào nhà xác.
Nhưng kỳ diệu thay, 9 phút sau ông sống trở lại, và kể về những điều đáng kinh
ngạc mà ông đã chứng kiến khi trong trạng thái ở bên ngoài thân xác. Ritchie đã
viết về Trải nghiệm cận tử (NDE) của ông trong cuốn sách "Trở lại từ ngày
mai", đồng tác giả với Elizabeth Sherrill, xuất bản lần đầu năm 1978. Cuốn
sách đã được dịch sang 9 thứ tiếng khác nhau.
Bác sĩ George Ritchie đã kể
lại rất chi tiết những gì mà mình đã trải qua trong suốt khoảng thời gian ông
chết.
2.2. Câu chuyện về Katsugoro.
Vào cuối thời kỳ Edo đầu
thế kỷ 19, ở Nhật Bản có một câu chuyện luân hồi chuyển sinh không chỉ
gây chấn động trong các tầng lớp người dân Nhật Bản mà còn truyền rộng trong tầng
lớp Vương thất, đến cuối thế kỷ 19 câu chuyện này đã được lan truyền ra nước
ngoài, đó là câu chuyện chuyển sinh của cậu bé Katsugoro. Katsugoro là người đã
biết về tiền kiếp của mình khi cậu bé nói rằng: “Biết chứ, em là Fujikura sinh
ra ở thôn Hodokubo, 6 tuổi bị bệnh đậu mùa mà chết.” Katsugoro đã thuật lại tỉ
mỉ về quá khứ và nơi sống của mình trong kiếp trước, quá trình tái sinh từ cậu
bé Fujikura trở thành Katsugoro của kiếp sau.
Năm Minh Trị 23 (1890),
tác giả Koizumi Yakumo đến Hoa Kỳ và xuất bản tuyển tập “Phật điền đích lạc tuệ,”
trong đó có câu chuyện “Katsugoro chuyển sinh,” nhờ đó câu chuyện Katsugoro
chuyển sinh từ Nhật Bản được lan truyền ra các nước khác.
2.3. Cậu bé Tang Jiangshan, người
sống hai đời ở Hải Nam
Cậu bé tên là Tang
Jiangshan, sống tại thành phố Đông Phương, tỉnh Hải Nam, Trung Quốc. Theo lời kể
của cha mẹ Tang Jiangshan và những già làng, khi Tang Jiangshan mới vừa 3 tuổi
(năm 1979), một ngày nọ cậu đột nhiên bảo cha mẹ rằng: “Con không phải là con của
hai người. Đời trước con tên là Chen Mingdao, cha con tên là Sandie. Nhà con ở
Đam Châu, gần biển”. Nơi cậu bé nhắc đến cách thành phố Đông Phương chừng
hơn 160 km. Cậu bé kể rằng cậu đã bị giết bằng kiếm và súng trong thời Cách mạng
Văn hóa. Điều lạ là cậu có thể nói giọng Đam Châu rất rành rọt. Tiếng địa
phương Đam Châu khác hẳn giọng nói trong vùng cậu đang sống. Bên phía bụng trái
của cậu cũng có vài vết thẹo bị chém bằng kiếm để lại từ đời trước.
Các nhà xuất bản làm việc
với tạp chí Phụ Nữ Phương Đông lúc đầu không tin câu chuyện của Tang Jiangshan. Nhưng sau khi
điều tra cẩn thận, họ đã xác minh những việc Tang trải qua là thật.
2.4. Câu chuyện về Ray Bryant
Theo đó thì Ray Bryant là
nhà báo người Anh, năm 44
tuổi tự nhiên ông nhớ lại
tiền kiếp của mình rất rõ. Theo Ray Bryant thì khoảng năm 1855, anh ta là một
trung sĩ tên là Reuben Stafford và đã tham dự nhiều trận đánh kinh hồn trong đó
có trận Crimeé vô cùng khủng khiếp. Ðó là trận chiến dữ dội nhất giữa quân Nga
và quân Anh, Pháp, Thổ. Trong trận này quân Anh bị quân Nga tiêu diệt 700 người.
Trường hợp nhà báo Anh Ray Bryant nhớ lại tiền kiếp đã một thời làm xôn xao dư
luận nước Anh.
Lúc bấy giờ, chính Bộ
Quốc Phòng Anh phải nhờ đến Ðại tá
John Bird đích thân tìm hiểu sự thật. Ðại Tá này đã cùng với một số sử gia lục
lọi các tư liệu trong nha Văn Khố, Quốc Phòng Bảo Tàng Viện Chiến Tranh, các
thư Viện Quốc Gia, các tài liệu xưa và đã đi đến kết luận là câu chuyện không
phải bịa đặt vì họ đã tìm thấy tên của một trung sĩ tên là Reuben Stafford.
2.5. Bí ẩn về cậu bé Carl Edon.
Câu chuyện luân hồi được
cho là kỳ lạ nhất là câu chuyện của Carl Edon, sinh ra tại Anh. Cậu không chỉ
nhớ được kiếp trước của mình, mà còn biết được thời điểm mình sẽ "ra
đi" trong kiếp này.
Cậu bé nhớ về tiền kiếp của
mình là một phi công và đã qua đời trong một vụ rơi máy bay, cậu bé đã vẽ lại
phù điêu của Đức quốc xã và buồng lái máy bay một cách chi tiết, tỉ mỉ, cậu đã
kể lại quá trình chiếc máy bay gặp nạn, sự ra đi của mình ở kiếp trước và cậu đã tiên đoán về sự ra đi của mình trước
năm 25 tuổi ở kiếp này.
Vào mùa hè năm sau, Edon
22 tuổi, cậu cãi nhau với một đồng nghiệp tại nơi làm việc và bị đâm 37 nhát
cho đến chết.
Tất cả những sự trùng hợp
đáng kinh ngạc đã khiến câu chuyện của Edon một lần nữa trở thành tiêu đề nổi bật
của các tờ báo và được gọi là câu chuyện luân hồi kỳ lạ nhất.
3. Câu chuyện luân hồi và những giá trị nhân sinh.
Trở lại câu chuyện về Tiến sĩ Ian
Pretyman Stevenson - một bác sĩ tâm thần người Canada, ông được biết đến với nghiên
cứu về các trường hợp mà ông coi là bằng chứng về sự luân hồi, với ý tưởng rằng
cảm xúc, ký ức và thậm chí cả các đặc điểm cơ thể có thể được chuyển từ kiếp
này sang kiếp khác.
Trong khoảng thời gian 40
năm nghiên cứu thực địa quốc tế, Tiến sĩ Stevenson đã tìm hiểu và xác minh gần
3.000 trường hợp trẻ em có ký ức về những trải nghiệm ở kiếp trước. “Những đứa
trẻ nhớ được tiền kiếp” (tựa gốc: “Children who remember previous lives”) là cuốn
sách tóm tắt công trình nghiên cứu nổi tiếng này của ông. Việc nghiên cứu các dấu
hiệu chứng tỏ ký ức của một người vẫn tồn tại sau khi chết.
Bên cạnh những nghiên cứu
của các nhà khoa học thì những câu chuyện “người thật việc thật” như câu chuyện
của bà Trần Thị Sương sinh năm 1924, sống ở Tây Ninh. Bà là người đã sống
lại sau khi hồn đã lìa khỏi xác cũng và bà đã kể lại hành trình của mình khi đi qua cửa tử. Trải qua
giai đoạn đi vào cõi âm, bà Sương đã thay đổi hẳn suy nghĩ và cách sống. Trước
khi chưa chết, bà không tin có linh hồn, không tin có Thần Phật, nhưng khi trở về từ cõi chết,
bà quyết sống một đời sống khác,
bà trở nên có tín ngưỡng vào Thần Phật, sẵn sàng làm giúp đỡ người khác, bà cũng bắt đầu ăn chay, bà hiểu rằng dương mệnh ở đây
mà kết thúc thì không phải là hết. Con người là phải đi theo quy luật luân hồi
chuyển kiếp.
Trên thực tế vào khoảng
3.000 năm trước, Phật giáo đã nghiên cứu đối với thực nghiệm cận với cái chết. Kinh “Địa Tạng Bồ Tát Bổn
Nguyện Kinh” có một đoạn miêu tả thể nghiệm cận cái chết: “Người làm thiện ở
cõi Diêm Phù Đề đến lúc lâm chung lại có trăm ngàn ác đạo quỷ thần hoặc biến
ra hình Cha Mẹ, thậm chí thành người thân
thuộc tiếp đón người chết dẫn vào đường ác, huống hồ là những người làm ác”.
Từ những câu chuyện trên,
chúng ta nhận ra rằng khái niệm “chết là hết” không phải là lập luận mang tính
xác thực tuyệt đối, dù có nhiều
công trình nghiên cứu nhưng đến nay, khoa học vẫn chưa thể khẳng định chính xác
về điều này. Vì vậy những
câu chuyện tâm linh đã trở thành chủ đề “thực hư” vượt ra khỏi ngưỡng giới hạn
của khoa học và cả Tôn giáo. Phật giáo được xem là một đạo giáo có cách lý giải
về hiện tượng vong linh và luân hồi như một sự tiếp diễn liên tục, luân hồi tạo
nên từ “Nghiệp” và chấm dứt khi đã tận diệt mọi hữu lậu. “Chân thật vĩnh
hằng mới là đời sống
tâm linh của chúng ta” nên Tôn
giáo mang tính phi khoa học (non-science) chứ không phải phản khoa học (anti-science) và linh hồn, có hay không
sau khi con người rời bỏ thân xác, vẫn là điều bí ẩn, tuy nhiên ở góc độ siêu
linh thì vong linh và sự luân
hồi đã được lý giải dựa trên hành trình sinh tử của con người, trong đó
đạo Phật đã dẫn dắt con người khám phá thế giới tái sinh luân hồi dưới sự tiếp biến của khoa học văn
minh và tâm linh mầu nhiệm. Chính vì tin vào tiền kiếp, có nhân quả, có sự tái
sinh mà con người sẽ biết nhìn lại những hành vi, lối sống của mình để tạo điều
lành, tránh điều ác để sau khi lìa bỏ thân xác tạm bợ này thì không bị những
nghiệp lực đeo mang, làm cho thần
thức bị mù mịt, không thể siêu thoát, hoặc bị đọa lạc luân hồi vào con
đường đau khổ. Tuy nhiên cũng
chính vì yếu tố kỳ bí và chưa thể lý giải một cách tuyệt đối nên câu chuyện về
những vong linh và thuyết luân hồi đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho những kẻ
đánh vào lòng tin của nhiều người để trục lợi bằng nhiều hình thức tà giáo, mê
tín dị đoan, gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, vì vậy mỗi người chúng ta cần có
những hiểu biết đúng đắn trên tinh thần bi mẫn về khái niệm luân hồi sinh tử để
bài trừ những niềm tin mù quáng, phản khoa học, trái với tín ngưỡng Tôn giáo,
giúp chúng ta xây dựng được một đời sống tâm linh hướng thiện.
Võ Đào Phương Trâm (Tổng hợp)
Bài viết hoan hỷ được gieo duyên trên các Trang
https://thuvienphatquang.com/goc-nhin-khoa-hoc-va-phat-giao-ve-linh-hon-va-luan-hoi/
https://thuvienhoasen.org/a40529/goc-nhin-khoa-hoc-va-phat-giao-ve-linh-hon-va-luan-hoi
https://hoavouu.com/a49623/goc-nhin-khoa-hoc-va-phat-giao-ve-linh-hon-va-luan-hoi
https://www.niemphat.vn/goc-nhin-khoa-hoc-va-phat-giao-ve-linh-hon-va-luan-hoi
Nhận xét
Đăng nhận xét