Vào ngày
16/5/2024, Hội đồng Trị sự Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam có ban hành văn bản số
151/HĐTS-VP1 về việc “Thông báo người được mạng xã hội gọi là sư Minh Tuệ không
phải là tu sĩ Phật giáo”. Căn cứ vào những nội dung ban hành trong văn bản, tôi
xin được chia sẻ một số ý kiến như sau:
1. Thế nào là tu sĩ Phật giáo?
Trong sách Kinh Tương ưng
bộ II, (tập IV) có viết: Tu sĩ Phật
giáo là người từ bỏ nếp sống thế tục, còn gọi là người xuất gia, khép mình
trong nếp sống đạo đức và hành trì theo pháp môn đã được Đức Phật thuyết định.
Căn cứ vào Luật Tín ngưỡng
Tôn giáo năm 2016 thì Luật cũng không có định nghĩa, bổ sung sửa đổi nào liên quan đến cụm từ “Tu sĩ Phật
giáo” theo như Kinh điển để lại.
2. Vấn đề về tăng đoàn
và người xuất gia theo Kinh điển nhà Phật
Trong bài viết “Phi tăng
phi tục” trong tư tưởng của Thân Loan (Shinran) ở Nhật Bản, đăng tải trên Tạp
Chí Nghiên Cứu Phật Học – Cơ quan Ngôn luận GHPGVN ngày 03/4/2024 có đoạn:
Trong Phật Giáo có giải
thích bốn hạng người xuất gia như sau:
- Thân lìa tâm chẳng lìa:
Trong trường hợp này, thân đã chọn xuất gia nhưng tâm trí vẫn còn đắm mình
trong cuộc sống thế tục. Dù họ ở trong tăng đoàn, tâm hồn vẫn mơ mộng và ái mộ
cuộc sống vật chất.
- Tâm lìa thân chẳng lìa: Ở
đây thân xác vẫn ở trong cuộc sống gia đình nhưng tâm hồn đã chấp nhận và thực
hành đời sống xuất gia. Họ không mê mải cuộc sống cám dỗ trần tục mặc dù sống
trong môi trường hỷ nộ ái ố.
- Thân và tâm đều lìa: Cả
thân và tâm tách khỏi cuộc sống thế tục. Người này đã xuất gia cả về vật chất
và tinh thần, không bị lôi cuốn bởi những danh vọng hay những cám dỗ vật chất.
- Thân và tâm đều không
lìa: Ở hạng cuối, cả thân và tâm đều bị rơi vào cuộc sống thế tục. Mặc dù có
gia đình, họ vẫn mãi mê vào nhiều khía cạnh của cuộc sống vật chất mà không ý
thức hoặc nỗ lực để xuất gia.
Vậy thì căn cứ vào bốn hạng
xuất gia này, chúng ta thấy sư Minh Tuệ là người “thân và tâm đều lìa” như vậy
ông đã là người xuất gia theo như Kinh điển Phật giáo đã ghi lại.
Trong bài viết “Họ Thích
có từ khi nào, ý nghĩa?” tác giả Pháp Vương Tử, đăng trên Tạp Chí Nghiên Cứu Phật
Học – Cơ quan Ngôn luận GHPGVN ngày 24/3/2022
có đoạn “Ngài không hề coi trọng việc các đệ tử mang họ Thích của Ngài,
nó được thể hiện cụ thể ngay trong Tăng đoàn, kể cả 10 đại đệ tử Phật như Tôn
Giả Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ananda…vẫn giữ nguyên họ và tên thế tục. Rồi đến cả
mô hình Tăng đoàn (mà sau này gọi là Giáo hội) Đức Phật cũng không cho phép có
một tổ chức chặt chẽ nữa là – vì cho rằng “Hiểu biết càng sâu thì niềm tin Tôn
giáo càng vững, còn Tổ chức của Giáo
hội có chặt chẽ hay lỏng lẽo cũng không thành vấn đề, hơn nữa mọi định
danh định nghĩa Tôn giáo, đạo Phật cũng không mấy quan tâm, và hơn thế nữa còn
khước từ vì cho rằng: Mọi định nghĩa khách quan là đặt giới hạn cho sự thăng
hoa của nguồn sống Đạo”.
Trong lịch sử hơn 26 thế kỷ, đã có nhiều cư sĩ không xuất gia nhưng cũng chứng đắc, đó là
ngài Duy Ma Cật, ngài Bàng Long Uẩn và vợ, con trai, con gái của ngài Bàng Long
Uẩn đều chứng ngộ.
Như vậy Đức Phật dạy
cho mỗi người là tự tìm cầu học đạo cho thật tốt và thấu hiểu giáo pháp nhà Phật
chứ không đặt nặng vấn đề Tăng đoàn, Giáo hội, người chưa xuất gia vẫn có thể
chứng đắc quả và cũng không xem việc một tu sĩ là phải phụ thuộc vào Giáo hội.
3. Các hạnh tu tập của tu sĩ, người xuất
gia
Trong các hạnh tu tập của người xuất gia thì Độc
cư là một đức hạnh dùng phòng hộ sáu căn: mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý. Người
tu sĩ không phòng hộ mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý thì tâm luôn luôn phóng dật
theo sáu trần. Do tâm phóng dật thì làm sao tâm thanh tịnh được. Xưa đức Phật dạy: “Ta
thành Chánh Giác là nhờ tâm không phóng dật”. Nếu muốn tâm không phóng dật thì
nên phòng hộ sáu căn cho chặt chẽ.
Trong Độc Giác Phật
(Pacceka Bodhi) có định nghĩa, đó là sự khai minh giác ngộ đơn độc của một
người tự lực cố gắng tiến đến Đạo Quả, không nhờ một ai dạy dỗ hay giúp đỡ. Vì
đặc tính đơn độc giác ngộ, nên chư Phật Độc Giác không dắt dẫn ai đến nơi giác
ngộ bằng lối đơn độc giác ngộ được. Các Ngài chỉ nêu gương đức hạnh và trí dũng.
Trong Kinh điển Phật
giáo còn nhắc đến bảy đức hạnh của
người tu giải thoát gồm: Thích giản dị, không thích sống rườm rà, cầu kỳ;
Ưa thích yên lặng, không thích nói nhiều; Ít ngủ nghỉ, không ham ngủ; Không kết
bè, kết bạn, không nói những điều vô ích; Không tự khoe khoang trong khi mình
thiếu đức; Không kết bạn với những người xấu ác; Thích ở một mình nơi rừng núi
thanh vắng.”
Người tu sĩ và cư sĩ đệ tử
của đức Phật, muốn tu hành giải thoát và Phật pháp hưng thịnh thì phải sống một
mình. Bảy đức hạnh này đã xác định được sự ly dục, ly ác pháp của một tu
sĩ giải thoát.
Trong Trung bộ kinh, số
140 và Kinh Bāhiya (Tiểu bộ kinh, kinh Phật tự thuyết [Udàna], chương 1,
phẩm Bồ đề) có ghi lại: Thầy
Pukkusati dù chưa thọ giới Tỳ-kheo nhưng khi gặp Phật nghe pháp liền chứng đến
Tam quả A-na-hàm. Đạo sĩ Bāhiya từ xa xôi lặn lội đến gặp Phật, nghe xong pháp
thoại cực ngắn liền đắc Tứ quả A-la-hán.
Như vậy cho thấy rằng người
tu sĩ là người có thể tự phát
tâm tu tập cá nhân, có
thể sống độc cư để hướng đến con đường thoát khổ, giải thoát cho bản
thân mà không cần bắt buộc phải là
người sinh hoạt trong chùa chiền tự viện, tăng đoàn, là nhân sự của tổ chức
nào.
4. Những ngôn từ danh xưng đối với trường
hợp sư Minh Tuệ:
Trong thuật ngữ Việt Nam, "Sư" còn có nghĩa là Thầy. Bản thân Thầy Minh Tuệ không tự nhận
mình là Sư, không nhận
mình là Thầy nhưng chúng ta hiểu rằng “Sư” hay “Thầy” ngày nay không phải chỉ
dành riêng cho những
người đứng trên bục giảng, ngồi
ở pháp tòa mà có thể dành cho bất cứ những ai có thể truyền dạy cho ta
những kinh nghiệm, những điều quý báu trong cuộc sống hằng ngày, người Thầy, người Sư có thể xuất hiện ở bất cứ nơi
đâu, bất cứ ngành nghề, lĩnh vực nào nếu người đó xứng đáng để người đời học hỏi
và thọ giáo thế nên người ta có gọi là Sư Minh Tuệ, Thầy Minh Tuệ cũng không có
gì sai, không ai được quyền cấm đoán.
Điều đó cũng tương tự như một người ca
sĩ, diễn viên không cần phải
tham gia trong một Hội nào nhưng nếu hát hay vẫn được gọi là ca sĩ, có
năng khiếu diễn xuất vẫn được mời đóng phim, vẫn được gọi là diễn viên, vậy một
người tự phát tâm tu học, thực hiện đúng giới luật, thực hành bát chánh đạo, đầy đủ Giới - Định -
Tuệ thì tại sao người
đó không được gọi là tu sĩ?
Và dù một người không phải
là người tu nhưng nếu họ có những đóng góp to lớn cho xã hội, việc làm của họ
lan tỏa được những thông điệp tích cực, nhân văn và được người đời ngưỡng mộ,
xem vị đó là Thánh nhân cũng là điều hết sức bình thường.
5. Những nội dung trong văn bản số
151/HĐTS-VP1 của GHPGVN
Bản thân nhà sư Minh Tuệ
không nhận mình là tu sĩ, không nói về nơi tu tập của mình là vì sư không muốn gây
ảnh hưởng đến chùa chiền tự viện.
Đối với quá trình tu tập của sư Minh Tuệ theo như tìm hiểu qua lời kể của Bố ruột
thì sư Minh Tuệ xuất gia năm 2015 (có làm đơn xin xuất gia, được bố và chính
quyền địa phương ký xác nhận), tu tập khoảng 6 tháng trong một tu viện, sau đó
tham gia tu tập tại một ngôi chùa ở Tây Ninh, được đặt pháp danh là Thích Minh
Tuệ rồi quay về tu tại gia ở Thất am, nhưng vì nơi này có nhiều người đến câu
cá nên đến năm 2018 thì sư Minh Tuệ bắt đầu thực hành lối tu khổ hạnh. Tuy
nhiên trong văn bản số 151/HĐTS-VP1 lại ghi “Ông Lê Anh Tú sau khi từ bỏ công
việc đo đạc địa chính tại Tỉnh Phú Yên đã thực hiện một vài lần đi bộ hành từ
Khánh Hòa ra các tỉnh phía Bắc…” là chưa chính xác, văn bản đã bỏ mất giai đoạn
tu tập xuất gia của sư Minh Tuệ làm cho nhiều người đọc vào hiểu lầm là sư bỏ
làm xong thì đi tu khổ hạnh, chưa qua giai đoạn xuất gia tu tập ở đâu.
Về nội dung “công việc đo đạc địa chính ở Tỉnh
Phú Yên” thì cá nhân Thầy Minh Tuệ và Bố ruột đều đã trả lời là chỉ làm cho
công ty tư nhân chứ không phải cơ quan nhà nước.
6.
Các văn bản Pháp luật về Tín ngưỡng Tôn giáo:
Tại Khoản 12, Điều 2 của
Luật Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2016 ghi rõ: “Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín
đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo
một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn
giáo”.
Trong Luật Tín ngưỡng Tôn
giáo tại Khoản 7, Điều 2 giải
thích cụm từ “Nhà tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện
nếp sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo”.
Tại Khoản 2 Điều 9 của Luật
Tín ngưỡng Tôn giáo có quy định: “Chức sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại
diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham
gia hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, hoạt
động tôn giáo đúng quy định của pháp luật”.
Như vậy, Cụm từ “nhà tu
hành” trong Luật Tín ngưỡng
Tôn giáo là quy định đối với những người tu hành có hoạt động trong một
tổ chức, một Hội thuộc Tôn giáo, có tham gia vào các hoạt động liên quan đến
Tôn giáo và xã hội, tương tự như “nhà văn, nhà giáo, nhà báo…” chứ không phải
dùng chung cho Tu sĩ Phật giáo. Vì vậy nếu GHPGVN áp dụng cụm từ “nhà tu hành”
để khẳng định sư Minh Tuệ không phải là “Tu sĩ Phật giáo” là không phù hợp với
phạm vi, đối tượng được áp dụng trong Điều Luật.
Đối với Quy chế của Ban Tăng sự Trung ương
GHPGVN nhiệm kỳ (2022-2027) quy định về điều kiện, tiêu chuẩn xuất gia tại Điều
34 và đây là Quy chế của Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN đối với người xuất gia
trên đất nước Việt Nam, có tham gia trong tổ chức của GHPGVN theo Khoản 7, Điều
2 của Luật Tín ngưỡng Tôn giáo chứ tu sĩ Phật giáo trên thế giới họ không áp dụng
theo Điều 34 này.
Tại Khoản 1, Khoản 2 Điều
6 Luật Tín ngưỡng Tôn giáo có quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; Mỗi người có quyền bày tỏ niềm
tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội;
học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”.
Tại Khoản 2, Khoản 3 Điều
24 của Hiến Pháp nước Cộng Hòa Xã Hội Chú Nghĩa Việt Nam năm 2013 có quy định:
“Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Không ai được
xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm
pháp luật.
Từ ngữ trong văn bản pháp luật phải mang tính
chính xác tuyệt đối, không mang tính tương đối, không mang tính suy diễn, mỗi một
từ ngữ đều có phạm vi, đối tượng áp dụng khác nhau, không đánh lận câu từ, cho
nên khái niệm “nhà tu hành” là nhà tu hành, “tu sĩ phật giáo” là tu sĩ phật
giáo, hai khái niệm này là riêng biệt, không thể vì không tìm ra được quy định
về “tu sĩ phật giáo” trong Bộ Luật thì tự cho rằng tu sĩ Phật
giáo là nhà tu hành là sai quy định pháp luật.
Và Luật là đơn vị cấu trúc
bên trong của hệ thống pháp luật bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh một
loại quan hệ xã hội có cùng tính chất, nội dung thuộc một lĩnh vực đời sống xã
hội nhất định. Luật quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội,
quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo,
văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và
hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân. Luật không có thẩm quyền thay đổi những nội dung mang
tính Kinh điển, giáo lý, lịch sử. Như vậy cho thấy
rằng mọi công dân trên đất nước Việt Nam đều được đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng
tôn giáo, và tu sĩ Phật giáo là khái niệm nằm trong Kinh điển Phật giáo, một tổ chức chỉ có thẩm quyền xác nhận người đó có
thuộc tổ chức mình hay không chứ không có thẩm quyền để khẳng định hay bác bỏ
những vấn đề nằm ngoài phạm vi cho phép vì
tu sĩ Phật giáo là một cụm từ dành cho tất cả người tu hành theo đạo Phật trên
toàn thế giới. Chúng ta không
thể lấy một khái niệm thuộc phạm vi nhỏ để phủ định cho cái thuộc phạm vi lớn
hơn. Muốn xác định điều
này, phải căn cứ vào rất nhiều yếu tố từ lịch sử, kinh điển, pháp luật, đời
sống xã hội và bản thân người tu học.
7. Nội dung văn bản số 795/TGCP-PG ngày 16/5/2024
của Ban Tôn Giáo Chính Phủ
Đối chiếu nội dung văn bản số 795/TGCP-PG ngày 16/5/2024
của Ban Tôn Giáo Chính Phủ có ghi “Ông Thích Minh Tuệ không phải là tu sĩ thuộc
Giáo Hội PGVN” chứ văn bản không ghi “Ông Thích Minh Tuệ không phải tu sĩ Phật
Giáo”. Như vậy cho thấy nội dung văn bản của Ban Tôn Giáo Chính Phủ là phù hợp
với Pháp luật và tinh thần nhà Phật.
Trong những ngày qua, nhiều người vây quanh trên
đoạn đường sư Minh Tuệ đi ngang qua, nếu đám đông đi theo nhà sư có những
hành vi quá khích, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội thì tùy
theo mức độ, cơ quan chức năng sẽ có những giải pháp, biện pháp can thiệp và xử
lý trên nguyên tắc đúng pháp luật và tín ngưỡng.
Việc Hội đồng Trị sự GHPGVN ban hành văn bản để bác bỏ, phủ nhận sư
Minh Tuệ không phải là “tu sĩ Phật giáo” với cách hành văn nặng nề gây cho người đọc cảm giác phản cảm và tổn
thương một người tu hành,
văn bản đã biến một người tu hành bình thường trở thành người dối trá trong mắt mọi người bằng
những câu từ lưng chừng, cắt khúc?
Phật dạy chúng sinh “Hãy
thắp đuốc lên mà đi”, đừng nương tựa ai mà hãy nương tựa vào Pháp, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn,
dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một cái gì khác” và câu “Ta
là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, cho thấy rằng mỗi người đều có
thể nương tựa vào Chánh pháp để tu tập, tu học hướng đến đời sống giác ngộ, giải
thoát mà không cần phải lệ thuộc vào ai, vào tổ chức nào, con người đều có thể thành Phật nếu nói
được như Phật, làm được như Phật, sống được như Phật và giải thoát được như Phật.
Việc chỉ chấp nhận, thừa
nhận những người tu trong tổ
chức chùa chiền mới là
người tu sĩ, phản bác người tu tập bên ngoài là việc làm mang tính cục bộ, ngược lại với lời dạy Đức Phật vì
Người luôn khuyến tấn mọi người tu học để giải thoát đau khổ, thoát khỏi sinh tử
luân hồi, việc tu tập không của riêng ai vì mỗi một cá nhân thực hành tu học theo Đức Phật, trở thành người
tu sĩ Phật giáo đều là ngọn đèn soi sáng cho bản thân và mang lại những giá trị tốt đẹp trong cộng đồng xã hội.
Lời kết:
Trong văn bản số 151/HĐTS-VP1 ngày 16/5/2024 của Hội
đồng Trị sự GHPGVN có
ghi “Qua tìm hiểu xác
minh, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN khẳng định người đàn
ông này không phải tu sĩ Phật giáo”.
Từ những dẫn chứng nêu
trên, cho thấy rằng văn bản số 151/HĐTS-VP1 của Ban Trị Sự Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam khẳng định sư Minh Tuệ
không phải là “Tu sĩ Phật giáo” là không chính xác, mặc dù sư Minh Tuệ không nhận mình là tu sĩ Phật
giáo, nhưng dựa vào các căn cứ Pháp luật, Kinh điển Phật giáo, quá trình tu tập
của sư Minh Tuệ như đã nêu trên cho thấy sư Minh Tuệ là người có đầy đủ quyền tự
do tín ngưỡng Tôn giáo và là “Tu sĩ Phật giáo” đúng theo tinh thần nhà Phật và không trái quy định pháp luật.
Bên cạnh đó, GHPGVN chỉ có
thẩm quyền thông báo kết luận “ông Minh Tuệ không phải tu sĩ thuộc GHPGVN” chứ
không đủ thẩm quyền để kết luận người đó không phải là “Tu sĩ Phật giáo”.
Chúng tôi hoàn toàn tán thán và đồng tình với nội
dung công văn của Ban Tôn Giáo Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo chấn chỉnh tình trạng
tụ tập đông người gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội, ảnh hưởng đến con đường tu tập của nhà sư Minh Tuệ. Tuy nhiên đối
với văn bản của Ban Trị sự Giáo hội PGVN ban hành với lối hành văn và nội dung
còn nhiều điểm chưa chính xác, lý giải chưa thỏa đáng làm ảnh hưởng đến bản
thân người tu hành như nhà sư Minh Tuệ là điều cần phải xem xét, điều chỉnh và
khắc phục để hợp lòng tín chúng nhân dân.
Tác giả An Tường Anh.
Bài viết đăng tải trên các Trang
https://thuvienhoasen.org/a41166/su-minh-tue-co-phai-tu-si-phat-giao-hay-khong-
https://nguoiphattu.com/tin-tuc/vai-suy-nghi-ve-van-ban-xac-nhan-tu-si-phat-giao.d-14153.aspx
Nhận xét
Đăng nhận xét