Thiền trà là thiền
tập trong khi uống trà. Có khi ta để ra hai giờ đồng hồ để chỉ uống một chén
trà và ăn một cái bánh nhỏ.
Thiền trà được tổ chức tại chùa, nhưng có thể được tổ chức trong nhà với sự tham dự của những người khách quý của gia đình. Để cho buổi thiền trà được thành công, số người tham dự không nên vượt quá con số mười sáu.
Trong khi dự thiền
trà, ta thấy thoải mái, an lạc và hạnh phúc. Ta hoàn toàn sống trong giờ phút
hiện tại giữa sự có mặt của những người thân. Những người đầu tiên biết sử dụng
lá chè tàu (Camelia Sinensis) là các vị thiền sư. Họ nhận thấy nấu trà này mà uống
thì trong người tỉnh táo và ngồi thiền không buồn ngủ. Dần dần, chỉ lá non của
cây chè tàu được sử dụng và ướp thành trà. Thiền và trà đã có duyên với nhau
trong lịch sử cả một ngàn mấy trăm năm. Tại thiền viện nào thiền sinh cũng được
uống trà. Chú tiểu nào cũng biết pha trà.
Pha trà cho đại chúng đã trở nên một nghi lễ, bởi vì người pha trà phải thực
tập chánh niệm trong khi pha trà. Trà lễ ở Nhật cũng bắt nguồn từ thiền. Nghệ
thuật pha trà trong một trà lễ Nhật đã đi tới chỗ rất tinh vi, nhưng tiếc thay,
kỹ thuật pha trà thì còn mà nội dung thiền trà đã mất. Người pha trà không còn
theo dõi hơi thở và tập ý thức về mỗi cử chỉ của mình theo phương pháp quán niệm
xưa.
Thiền trà của chúng ta đơn giản hơn nhiều trong hình thức nhưng rất chú trọng
tới nội dung thiền tập. Chủ toại buổi thiền trà là vị trà chủ phụ trách pha trà
là người trà giả và tất cả những người tham dự khác đều được gọi là trà khách.
Trà chủ và trà giả phải biết số trà khách nhất định để chuẩn bị đủ nệm ngồi
và gối ngồi. Trong một buổi thiền trà, khay trà sẽ được chuyền tay từ người
ngày sang người khác, cho nên không thể có một chỗ trống không có người ngồi. Mọi
người ngồi thành một vòng tròn, và vị trà chủ ngồi ngay trước bàn thờ thiền tổ,
quay lưng lại với bàn thờ này.
Trà chủ có phận sự chủ tọa và hướng dẫn buổi thiền trà. Trà giả là người
pha trà. Vị này rất quan trọng trong thiền trà. Tất cả mọi động tác của vị này
đều khoan thai, cẩn trọng, đẹp đẽ và đi đôi với chánh niệm. Trà giả theo dõi
hơi thở và ý thức về mọi động tác của mình trong khi pha trà. Từng cử chỉ của vị
này có thể được đại chúng theo dõi, và vì vậy sự thanh tịnh của người pha trà rất
có liên hệ tới sự thanh tịnh của đại chúng. Ta chỉ có thể đảm nhiệm vài trò của
một trà giả khi ta đã tham dự thiền trà nhiều lần và quan sát cũng như thực tập
cách pha trà.
Từ đầu đến buổi thiền trà, người pha trà không hề đứng dậy. Tất cả mọi dụng
cụ pha trà đều nằm trong tầm tay, phía trước, phía sau và hai bên. Trà giả thường
ngồi cách vị trà chủ chừng ba người về phía tay phải. Trong trường hợp người
tham dự khá đông thì vị này có thể mời một người phụ tá cho mình. Vị phụ tá là
vị trà khách, ngồi ngay bên tay phải của mình.
Nếu tất cả có mười sáu người tham dự thiền trà thì trà giả phải chuẩn bị mười
bảy chén trà và mười bảy chiếc bánh nhỏ, bởi vì một chén trà và một chiếc bánh
sẽ được dâng lên bàn thiền tổ. Thiền tổ có thể là Bụt hay là vị thiền sư khai
sáng thiền viện. Trên bàn thiền tổ có hình tượng của thiền tổ, một bình hoa và
một lư hương nhỏ để cắm hương.
Trà và bánh dâng thiền tổ sẽ được đặt trên một chiếc khăn nhỏ, bằng giấy hoặc
bằng vải. Bánh để thết đãi trà khách cũng được đặt trên một chiếc khăn như thế.
Đến giờ thiền trà, ba tiếng chuông được thỉnh lên và cánh cửa trà xá được mở
rộng. Vị trà chủ và người pha trà (trà giả) đứng chắp tay hai bên cửa để đón mời
trà khách. Trà khách tiến vào trà xá mỗi lần một người. Mỗi vị trà khách, sau
khi chắp tay chào hai vị trà chủ và trà giả, tiến tới và nghiêng mình xá trước
bàn thờ thiền tổ. Mọi người chia nhau đứng chắp tay thành nhiều hàng trước bàn
thờ. Hàng đầu để trống vì đó là chỗ đứng của vị trà chủ. Sau khi mọi người đã
vào hết trong trà xá, vị trà giả khép cánh cửa lại và tiến lên, cẩn trọng thắp
nến, đốt một cây hương và từ từ đem đến cho vị trà chủ. Vị này chắp tay cúi đầu
nhận lấy cây hương, nâng hương lên quán tưởng, trong khi vị trà giả đến ngồi
trước chuông gia trì. Sau một tiếng chuông thức, vị tà chủ đọc bài kệ dâng
hương:
Hương đốt, khói trầm xông ngát
Kết thành một đóa tường vân
Đệ tử đem lòng thành kính
Cúng dường Chư Phật mười phương
Giới luật chuyên trì nghiêm mật
Công phu thiền định tinh cần
Tuệ giác hiện dần quả báu
Dâng thành một nén tâm hương
Nam mô hương cúng dường Bồ Tát.
Một tiếng chuông điểm. Trà chủ cắm hương vào bình và chắp tay lại xuống trước
bàn thiền tổ theo tiếng chuông kế tiếp. Đại chúng cùng lạy xuống một lượt với vị
trà chủ, ba lần. Lạy xong lạy thứ ba, trà chủ quay mình lại hướng về đại chúng,
chắp tay và nói: “Xin kính chào đại chúng” và lạy xuống một lạy. Đại
chúng cũng đồng thời lạy xuống để đáp lễ, theo nhịp chuông. Vị trà chủ làm lễ đại
chúng với tất cả sự cung kính, không khác gì cung kính thiền tổ, và đại chúng
cũng đáp lại với thái độ cung kính ấy.
“Xin mời đại chúng an tọa”, vị trà chủ đưa tay mời. Mộ người đến ngồi
xuống trên gối cùa mình trong khi theo dõi hơi thở và thầm niệm bài kệ ngồi xuống.
Ngồi đây ngồi cội bồ đề,
Vững thân chánh niệm không hề lãng xao.
Điều quan yếu nhất là bạn ngồi cho thật thoải mái. Nếu mỗi giây phút của buổi
thiền trà đều là một giây phút thoải mái thì thiền trà thành công. Ngồi xuống,
bạn điều chỉnh thế ngồi, hơi thở và an trú trong tịnh lạc, không cần lo phải đối
phó với ai cả, không cần chờ đợi gì, kể cả chén trà của bạn. Bạn sẽ nhận thấy mọi
người cũng đang ngồi yên trong tịnh lạc, kể cả vị trà chủ và người pha trà. Sau
khi điều chỉnh thế ngồi, hơi thở, và an trú trong tịnh lạc, vị trà giả bắt đầu
pha trà. Đây là chén trà đầu tiên, pha cho thiền tổ. Vị này pha trà rất thong
thả. Chén trà pha xong, trà giả nâng khay trà lên ngang mày. Trên khay trà có
chén trà và một chiếc bánh con. Lúc bấy giờ, bạn thấy một người trong số trà
khách từ từ đứng dậy. Vị này thường thường là một thiếu nhi, hoặc là một người
trà khách trẻ. Thiếu nhi cũng được mời tham dự vào các buổi thiền trà, và các
em mặc áo thật đẹp. Thiếu nhi ngồi xen với người lớn, và một em đã được chỉ định
trước để mang khay trà dâng thiền tổ.
Thiếu nhi này đứng dậy một cách khoan thai, chắp tay và đi từng bước chậm
rãi trong quán niệm hướng về phía người trà giả. Tới nơi vị này chắp tay xá người
trà giả, nhận lấy khay trà và quay lại, tiến tới phía vị trà chủ cũng bằng những
bước chân trang nghiêm và thoải mái. Khi thấy thiếu nhi đã tới đứng trước mặt
mình, vị trà chủ đứng dậy, chắp tay, nhận lấy khay trà, quay lại dâng trà lên
bàn thiền tổ. Lúc này tất cả đại chúng chắp tay trước bàn thiền tổ. Trà
đã dâng lên, mọi người buông tay xuống; vị trà chủ quay lại trao chiếc khay trống
cho vị thiếu nhi. Thiếu nhi chắp tay, nhận lấy chiếc khay, đi về phía người trà
giả. Vị trà giả chắp tay nhận lấy chiếc khay. Thiếu nhi nghiêng mình, quay lại
và bước từng bước chậm rãi về chỗ ngồi của mình. Vị trà chủ đợi cho thiếu nhi về
tới chỗ ngồi. Hai người cùng ngồi xuống một lượt tọa cụ.
Vai trò dâng trà của vị thiếu nhi rất quan trọng, bởi vì trong suốt thời
gian đó mọi người đều theo dõi mỗi bước chân của em để duy trì chánh niệm. Vì vậy
thiếu nhi cần được luyện tập trước, về hình thức cũng như về nội dung quán niệm.
Bây giờ trà giả mới chuyền khay bánh đi. Vị này nâng khay bánh lên ngang
mày, theo chánh niệm, rồi chuyền khay sang cho người trà khách bên trái. Vị trà
khách này chắp tay búp sen nhận lấy một phần cho mình, rồi nhận lấy khay bánh
và chuyền khay mời trở lại người trà giả. Đợi trà giả nhận bánh xong, vị này
chuyền khay mời vị trà khách bên trái. Như vậy, khay bánh tiếp tục đi về hướng
kim đồng hồ.
Đợi cho khay bánh được chuyền tới người thứ ba, trà giả mới khởi sự pha
trà. Vị này có nhiều chiếc khay. Trên mỗi chiếc khay, vị này đặt nhiều nhất là
sáu chén trà. Nếu nhiều hơn thì sợ khay trà nặng. Trước khi chuyền khay trà
sang người trà khách bên trái, vị trà giả cũng nâng khay trà lên ngang mày để
quán niệm. Khay trà chuyền đi rồi, vị trà giả mới pha đến khay trà kế tiếp.
Khay trà trống được thong thả chuyền về đường cũ một cách thong thả và
trong lễ nghi. Nếu bạn thấy hai cái khay đến với bạn một lượt, khay trống đến từ
bên trái và khay trà có trà đến từ bên phải thì ban hãy nhận chiếc khay trống
trước. Bạn đặt nó xuống sàn, trước mặt bạn, trước khi nhận chiếc khay có trà.
Khi mọi người đã có trà và bánh, và các chiếc khay trống đã được chuyển về
trà giả, vị trà chủ chắp hai tay lại thành búp sen: đó là vị ấy mời bạn dùng
trà. Vị ấy cũng có thể nói lên thành tiếng: xin kính mời đại chúng dùng trà. Tất
cả chúng ta đều chắp tay lại đáp lễ rồi đưa tay nâng chén trà lên. Bạn nhớ đưa
cả hai tay vì đây là uống trà trong lễ nghi. Với tất cả ý thức bạn nâng chén
trà lên và thầm đọc bài kệ uống trà:
Chén trà trong hai tay
Chánh niệm nâng tròn đầy
Thân và tâm an trú
Bây giờ và ở đây
Giây phút này, thân và tâm bạn đều có mặt một cách rõ ràng trong buổi thiền
trà. Bạn thấy được bạn đang ngồi đây, cùng với các bạn khác, hai tay nâng chén
trà, lòng không bị vướng mắc vào quá khứ, vào vị lai và vào những lo toan và ưu
tư hàng ngày. Chánh niệm được nâng lên tròn và đầy như chứn trà trong hai tay bạn.
Rồi bạn nâng chén trà lên uống
Trong một quán cà phê, chén trà hay chén cà phê thường bị chìm trong âm
thanh và tư lượng. Người uống trà hay uống cà phê chỉ có năm bảy phút. Người ấy
có thể đang trò chuyện với kẻ khác, hoặc đang nhìn khói thuốc để thả hồn về quá
khứ, hoặc đang tính trăm công nghìn chuyện tương lai. Chén trà không có địa vị
quan trọng trong lúc ấy. Tại một buổi thiền trà, chén trà không còn là một bóng
ma nữa. Chén trà được đưa lên vị trí cao nhất của nó: trà được tiếp xử như một
thực tại quý báu, được hiển lộ trong ý thức sáng tỏ của người uống trà. Nếu trà
được đưa lên địa vị cao nhất của nó thì người uống trà cũng được đưa lên địa vị
cao nhất của mình; đó là địa vị thức tỉnh, đó là Phật vị. Chén trà, cũng như tiếng
chuông, đưa Bụt về ngự trong mỗi chúng ta.
Từ khi bước vào trà xá, bạn đã biết giữ chánh niệm, theo dõi hơi thở, và
duy trì tịnh lạc. Mấy mươi phút đã trôi qua. Bạn có thảnh thơi và an lạc không?
Nếu có thì đó là bạn đã biết dự thiền trà. Bạn hãy tự nhiên, đừng gò bó, đừng cố
gắng, đừng chờ đợi, đừng đối phó. Càng tự nhiên bao nhiêu bạn càng có nhiều tịnh
lạc bấy nhiều. Bây giờ bạn cứ thong thả thưởng thức chén trà nóng và chiếc bánh
con của bạn. Nếu muốn có thêm chén trà thứ hai, bạn hãy chắp tay lại thành búp
sen. Vị trà giả, vốn là người có “ý tứ” sẽ trông thấy, và sẽ chuyền một chiếc
khay trống tới. Khi chiếc khay tới, bạn dùng hai tay đặt chén trà không của bạn
vào giữa lòng bàn tay rồi chắp hai tay lại. Chiếc khay sẽ đi trở về vị trà giả
và sau đó một vài phút, chén trà của bạn sẽ trở về lần này đầy trà nóng.
Trong buổi thiền trà, bạn có thể xử dụng bài kệ điều hòa hơi thở để duy trì
chánh niệm và sự an lạc:
Thở vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời
Một buổi thiền trà gồm có hai phần: phần đầu diễn ra trong im lặng. Khi vị
trà chủ nhận thấy phần thực tập im lặng đã vừa đủ, vị này lên tiếng. Đại chúng
được mời phát biểu cảm nghĩ của mình có thể bằng một câu chuyện, một bài thơ, một
bài hát tất nhiên đều có thiền vị. Đến dự một buổi thiền trà, bạn có thể đem
theo ống sáo của bạn, hoặc chiếc đàn nguyệt của bạn, hoặc một bài thơ đạo vị mà
bạn ưa ngâm nga. Trà chủ có thể thỉnh bạn ngâm một bài thơ, chơi một khúc sáo,
hay kể một câu chuyện. Mọi người lắng nghe bạn trong chánh niệm và chính bạn
cũng phát biểu trong chánh niệm. Vì vậy bạn phát biểu một cách từ tốn và ý nhị.
Phần thứ hai này tuy có tiếng nói nhưng lại khó hơn phần im lặng. Nhưng tham dự
thiền trà năm bảy lần, bạn sẽ quen với sự thực tập chánh niệm ngay trong khi
nói và nghe.
Vị trà giả có thể thay mặt trà chủ để mở lời trước tiên bằng cách nhắc đại
chúng về cách thức chắp tay để có một chén trà mới.
Trong một buổi thiền trà có thiếu nhi tham dự, ta phải chú ý đặc biệt, tới
các em. Ta có thể mời các em phụ tá cho người pha trà, lên đèn trên bàn thiền tổ,
thỉnh chuông cho đại chúng làm lễ. Nhất là ta phải nhớ mời các em phát biểu.
Các em có thể hát hoặc thổi sáo, hoặc đàn, hoặc kể một câu chuyện hay ra một
thái độ.
Khi thấy buổi thiền trà sắp kết thúc, vị trà giả chuyền những khay trống đi
để thu thập lại chén trà và khăn bánh. Vị trà chủ kết thúc buổi thiền trà, cám
ơn đại chúng và thỉnh một tiếng khánh. Mọi người chắp tay và xả tọa. Xả tọa tức
là nhè nhẹ tháo chân ra, rồi xoa bóp cho máu huyết lưu thông. Một tiếng khánh vọng
lên, mọi người đứng dậy. Sau gối ngồi của mình họ chắp tay hướng về bàn thiền tổ
nghiêng mình làm lễ theo hiệu lệnh của tiếng khánh. Các vị trà chủ và trà giả
ra đứng tiễn trà khách ở bên cửa vào trà xá. Mọi người nối nhau ra khỏi trà xá
thong thả và trang nghiêm như khi vào.
Thiền trà nên được tổ chức một hay nhiều lần trong các khóa tu học. Thiền
trà cũng có thể được tổ chức để mừng một người mới thọ giới hay để mừng bất cứ
một cơ hội vui nào khác. Thiền trà cũng đem lại sự nhiếp tâm và an lạc cho
chúng ta như thiền hành và thiền tọa.
Nguồn: langmai.org
MẠN ĐÀM LƯỢC Ý TRÀ VÀ THIỀN
Không biết tự bao giờ, Trà trở
thành thân quen trong nếp sống Thiền gia Phật Giáo Bắc Truyền, rồi trà thành một
phần văn hóa của Phật Giáo, pháp tu của Đạo Thiền, một phương pháp thưởng thức,
yêu mến thiên nhiên, chỉ có bạn trà trong Thiền lâm mới có thể liễu được, một
nét văn hóa ẩm thực, thể hiện sự thanh cao, hòa nhã, thanh tịnh đủ tính nết thiền,
của những con người "Thế ngoại đào viên".
![]() |
Ảnh minh họa, nguồn internet |
Nói đến Trà là nói đến
Đông Độ, bàn về Đạo của Trà hay cách thức thưởng thức Trà thì phải nói đến Phật
Gia, người Đông độ biết đến Trà rất sớm, trong sách của Tư Mã Tương Như đời Tây
Hán (năm 200 trước công nguyên) thiên Phàm Tương đã có đến trà và gọi trà
là: "Suyễn sá", trong sách Thần Nông Bổn Thảo Kinh gọi Trà
là: "Trà thảo", trong sách Quảng Châu Ký của Bùi Uyên thời Đông
Tấn thì gọi trà là: "Hạo lư", trong sách Trà Kinh của Lục Vũ đời
Nhà Đường chép về trà như: "Tên của trà có rất nhiều cách gọi, thứ nhất
gọi là Trà, thứ nhì gọi là Giả, thứ ba gọi là Thiết, thứ tư gọi là Danh, thứ
năm gọi là Suyễn". v.v... trong Trà Kinh liệt kê tên gọi của Trà có 10 loại.
Phật Giáo Đông Truyền vào
cuối thế kỷ thứ nhất đầu thế kỷ thứ hai sau công nguyên, nhưng theo hiện nay có
nhiều thuyết cho rằng Phật Giáo đến với Việt Nam còn sớm hơn thời kỳ này. Trong
khoảng 1000 năm Bắc thuộc, hầu như tất cả các thể loại văn hóa phương đông đều
được truyền đến Việt Nam và cũng như vậy Trà đạo cũng được các vị Thiền sư đem
đến, vì Việt Nam cũng là một trong những quê hương cổ xưa nhất của cây trà và
cũng như vậy người Việt Nam cũng biết thưởng thức trà từ rất sớm.
Thời kỳ đầu Trà chỉ là cống
phẩm cho triều đình dùng vào việc tế lễ cũng như các tầng lớp quý tộc mới có khả
năng để thưởng thức trà. Phật Giáo được truyền vào Đông Độ, trong khoảng 300
năm từ thời Tam Quốc đến thời Nam Bắc Triều và đặc biệc vào thời kỳ Nam Bắc Triều
Phật Giáo rất thịnh hành, Phật Gia dùng trà để giải trừ cảm giác hôn trầm trong
lúc ngồi thiền, cho nên thường thì trong vườn chùa đều có trồng trà, và việc uống
trà được truyền lang rộng rãi trong thiền lâm của Phật Giáo, vì thế Phật Giáo
là nguyên nhân chính tạo nên phong khí thưởng thức và phát triển trà trong xã hội,
đồng thời cũng là những người đầu tiên nghiên cứu và phát hiện những đặc tính
và công hiệu của trà, cho nên lai lịch của câu "Trà Phật nhất vị" trong
lịch sử của trà đạo là đây vậy. Đến đời Đường thì việc uống trà đã phổ biến khắp
nhân gian.
Đại Thừa Phật Giáo đến với
Đông Phương, thấm nhuần hương vị văn hóa của người Đông độ, dần dần văn hóa
truyền thống của người bản độ, hòa nhập vào tư tưởng của Đại Thừa phát triển và
hình thành hệ thống tư tưởng triết lý nếp sống của Bắc Truyền Phật Giáo và Trà
cũng như vậy, từ thức uống của nhân gian bước vào cửa thiền vì tính năng của đặc
biệt của mình, tư tưởng triết lý của Đạo Thiền hợp thức hóa Trà là Phật.
Phật Pháp Đại Thừa với
tinh thần "Vô duyên đại từ, đồng thể đại bi" cho rằng tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh, đều có chung một khả năng, đều có thể thành Phật,
vì hóa độ chúng sanh mà Phật hiện Thiên bá ức hóa thân, cho nên nhất thiết vạn
sự vạn vật đều có thể coi là hóa thân của Đức Phật. Vì vậy trà được Bắc Tuyền
Phật Giáo cho rằng là một trong thiên bách ức hóa thân của Phật, vì trong trà
có đầy đủ tính năng của Phật như: giải độc hại cho chúng sanh, làm cho chúng
sanh thoát khổ vì khát, có thể điều dưỡng tâm tánh, làm tâm được thanh tịnh và
điều quan trong nhất khi ngồi thiền định có thể chế tâm thoát khỏi hôn trầm,
khiến cho mau đạt đến đại định, vược khổ sanh tử, chứng đắc Niết Bàn, cho nên
Trà có một vị trí hết sức quan trọng trong Phật Giáo Bắc Truyền “Phật và
Trà chỉ có một vị”.
“Đi uống trà đi” công
án thiền nổi tiếng của Ngài Triệu Châu, trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục quyển thứ
10 chép: Ngài Triệu Châu hỏi một học Tăng mới đến: “đã từng đến chổ này
chưa?” vị Tăng đáp: “đã từng đến”. Ngài Triệu Châu dạy: “uống
trà đi”. Ngài lại hỏi vị Tăng, vị Tăng đáp: “chưa từng đến”. Ngài lại dạy: “uống
trà đi”.
Đây là một công án rất nổi
tiếng trong lịch sử của thiền tông có liên quan đến uống trà. Đã đến, chưa đến,
từng đến, tất cả đều không có trong hiện tại, chỉ trong phút giây hiện tại uống
trà mới nhận được sự an lạc của tất cả các giác quan, vật chất cũng như tinh thần,
và trong phúc giây nầy mới tự mình nhìn nhận ra chính mình và đó cũng là Đạo và
phương pháp uống trà của thiền gia.
“Trà Thiền nhất vị” đây
là câu nói về Trà của thiền sư Viên Ngộ đời Tống viết trong sách Bích Nham Lục
chứng minh cho sự khai ngộ về Trà của Thiền tông, câu “Trà Thiền nhất vị” cũng
được đệ tử người Nhật Bổn của Ngài là Vinh Tây viết lưu truyền đến Nhật Bản, hiện
nay đang được lưu giử tại Chùa Đại Đức, Nại Lương, Nhật Bản.
“Trà Thiền nhất vị” lần
kết tinh thứ hai của Trà trong Phật Giáo Bắc Truyền, đối với “Trà Phật nhất
vị”, “trà thiền nhất vị” là một bước tiến vô cùng vĩ đại, nó thể hiện
sự thể nhập về giáo lý, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, lối sống của Phật Giáo Bắc
Truyền, hoàn toàn hòa nhập vào tất cả các khía cạnh đời sống văn hóa của người
Đông độ, trở thành nếp văn hóa mới trong xã hội Đông Phương.
Văn hóa Thiền, sự tỉnh thức
trong từng phút giây của hiện tại,trong thế giới hiện tại, và đồng thời tìm đến
sự an lạc tỉnh lặng trong cuộc sống, xã hội chính mình đang sống và nhìn lại
mình là gì trong thế giới hiện tại nầy, để rồi: “Túy trúc huỳnh hoa phi
ngoại cảnh, bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân” trúc biếc hoa vàng không là
cảnh bên ngoài, mây trắng bay rồi trăng lại hiện hình xưa.
Trà Thiền là chỉ cho sự
thông qua sự đối mặt với Trà, thể nhận và cảm ngộ rồi hành trì thiền tọa, quán
tưởng, pháp tu này tương đồng với nhiều phương pháp tọa thiền, như quán thoại đầu.v.v..
của Thiền Tông nên gọi là Trà Đạo. Trà là căn cơ của tham thiền ngộ được
phật tánh, Đạo là phương pháp và dụng cụ cách thức pha trà, thể hiện được chân
lý “Thị chư pháp không tướng” tương ưng với “cảnh trần hợp nhất”,
nếu hai pháp này có thể hợp nhất thì người uống trà chẳng khác gì Thiền sư, Thiền
sư cũng là khách uống trà, tâm tâm tương ưng, pháp pháp hợp nhất đây là ý thú của “Trà
Thiền nhất vị” vậy.
Trà và Thiền tương ưng từ
nhân duyên đến thể dụng cho đến năng sở, có thể lấy Trà để dụ cho Thiền, lấy
Trà để hành Thiền, lấy Trà để ngộ Thiền, lấy Trà để tham Thiền, lấy Thiền để giải
thích Trà, lấy Thiền để dâng Trà, lấy Thiền để thưởng thức Trà, nếu như có thể
như vậy để uống trà, thì liễu được Trà Thiền nhất vị, là người uống trà đạt đến
cảnh giới “dĩ tâm truyền tâm, dĩ ngộ tự ngộ” trong Đạo Thiền vậy.
Phật Trà là như vậy, Thiền
Trà cũng không hai, đều chung một vị ngọt, giải thoát, niết bàn, tịch tịnh, ly
dục. Phật là chân đế, Trà là phương tiện. Thiền là cảnh giới, Trà là pháp môn,
tuy hai nhưng chỉ một, nhưng muốn đạt đến một thì không thể thiếu hai. Vì vậy
trong Trà có Đạo, trong Thiền có Trà, nếu không liễu được Đạo trong Trà, thì chỉ
uống trà bằng vị giác, còn nếu đã thể ngộ được Đạo để uống Trà, thì lục căn thể
nhập lục trần, thưởng thức trà trong tâm vô quái ngại, đạt đáo cảnh giới của
Thiền “Tâm - Phật - Chúng Sanh tam vô sai biệt”.
TT. Thích Tâm Mãn
Chùa Minh Thành:
www.chuaminhthanh.com
www.minhthanhtu.com
Nhận xét
Đăng nhận xét