Những ngày gần đây, có vẻ như Phật giáo ở Việt
Nam đang rơi vào cơn bão của sự khủng hoảng truyền thông, con người lạc vào mê
trận niềm tin tín ngưỡng ồn ã đa chiều, mặc dù trước đây, Phật giáo trong nước cũng
đã từng gây ra tranh cãi trong cộng đồng phật tử từ câu chuyện một vài sư thầy
giảng đạo đi ngược lại tinh thần nhà Phật, gieo rắc những bài thuyết giảng tà
kiến hù dọa con người, đã không ít lần dư luận lên án và bức xúc, nhưng nó giống
như một con sóng dồn dập rồi tan vào cát, tiếp nối, kéo dài làm người ta trở
nên chán ngán đến dửng dưng, nhưng thường khi điều gì vụt lên quá cao hoặc rơi
xuống đáy sâu thì sẽ có một sự việc, hiện tượng làm cho nó đảo chiều ngược lại.
Khi niềm tin tín ngưỡng thời gian qua bị rơi rụng,
bóp méo, bào mòn và nhàu nhĩ thì bỗng nhiên được vực dậy khi có sự xuất hiện của
một người tu, một người tu “kỳ lạ”, một người tu với chiếc bình bát làm bằng nồi
cơm điện cũ, một chiếc y phấn tảo hiếm hoi còn hiện hữu giữa một xã hội tân thời,
vị tu sĩ bước đi với nguồn năng lượng mạnh mẽ của một người đầu đội trời, chân
đạp đất, qua nhiều miền đất nước, lặng lẽ với một nụ cười bi mẫn trên môi.
Không ai ngờ một ngày vị tu sĩ vô danh đã từng độc
hành đi qua nhiều nơi bỗng chốc lại trở thành một người khuấy động cả thế giới
tâm linh trên mảnh đất hình chữ S. Người đó là sư Minh Tuệ.
Hình bóng vị sư hiện lên với đôi chân trần sạm
đen, làn da nâu bóng khỏe được nhuộm bởi nắng, bởi gió, bởi sinh khí của đất trời,
một dáng vẻ gầy gò nhưng rắn rỏi, những bước đi nhanh nhẹn trong chiếc y phấn tảo
tung bay, hiện lên sự an lạc, diệu thường giữa mớ ngổn ngang u trầm của niềm
tin đang bị sáo mòn, loang lổ.
Một bóng người bé nhỏ nhưng lại làm lay động hàng
triệu trái tim, đánh thức xúc cảm bao người trong và ngoài nước. Sẽ không ai có
thể phủ nhận hay cho đó là điều bình thường, là sự u mê của những người mê tín
khi nghe dòng tâm sự của người thanh niên bồi hồi rơi lệ, họ bảo rằng: “Một thằng
đàn ông khóc không phải là chuyện dễ, nhưng khi thấy thầy Minh Tuệ, tôi lại rơi
nước mắt”, và đó không phải là cảm xúc duy nhất của một người.
Sẽ không phải tự nhiên hay theo trào lưu trên mạng
khi tôi gặp một người bạn từng là giảng viên đại học Bách Khoa, người đã từng 3
năm công tác tại Mỹ và đang bảo vệ luận án tiến sĩ tại Thụy Sỹ lại có những lời
tán thán về thầy, họ biết rõ về thầy hơn là tôi nghĩ, và họ bảo rằng “vị ấy là
bậc chân tu”.
Sẽ là điều ngạc nhiên khi một bạn làm trong
ngành cảnh sát nói với tôi: “Em có đứa em bà con đang đi tu trong đoàn của sư
Minh Tuệ đấy!”
Và không phải là một điều tầm thường của người
mê tín khi tôi nghe một vị bác sĩ ngồi phiên dịch lại một đoạn trên báo nước
ngoài nói về sư Minh Tuệ, là lời tán thán của những vị có tiếng tăm trong giới
chính trị, văn đàn và có cả những lời tôn kính của không ít người phật tử tận
bên Trung Quốc xa xôi.
Và còn nhiều, nhiều những người với những tầng
lớp, trình độ, tôn giáo khác nhau đã cùng có một điểm chung đó là lòng thương
kính về vị sư Minh Tuệ, nếu ai đó bảo là theo trend, tôi nghĩ sẽ là không phải
bởi trend nó thường dành cho một nhóm người nào đó, còn ở đây nhiều người tán
thán hạnh nguyện của Ngài chắc chắn không phải vì trend. Họ vốn là những người thông
minh, trình độ, sâu sắc, thậm chí có những người ít khi để tâm đến những vấn đề
xảy ra rầm rộ trong xã hội nhưng vẫn dành sự quan tâm theo dõi một vị sư, thì
đó không phải một xu hướng thông thường.
Có người bảo rằng, hạnh đầu đà đã có nhiều người
đi thì đâu có gì để phải tôn sùng sư Minh Tuệ, nhưng có một sự thật rằng “Trong
một đoàn người đi, nhưng tại sao người này lại được quan tâm hơn người khác?” Có
thể vì thời gian người tu học đó thực hành bền bỉ và lâu dài hơn, cũng có thể
vì năng lượng từ bi tâm của người đó lớn hơn, khi một người có sự từ bi, trí huệ
vượt trội thì họ sẽ tỏa ra nguồn năng lượng mạnh mẽ để chiêu cảm nhiều người,
điều này khoa học cũng đã chứng minh, thế nên cùng một việc đó, một đoàn người
đó thực hành nhưng chưa được nhiều người biết đến có thể vì năng lượng từ bi
tâm của họ chưa đủ mạnh hoặc thời gian thực hành khổ hạnh chưa đủ dài.
Cũng có không ít người triết lý cho rằng “bình
yên là ở bên trong chứ không phải đi lang thang tìm kiếm bên ngoài. Ngồi đọc một
quyển sách, uống một ngụm trà sẽ thấy rõ nhân sinh thay vì phải chạy theo ai
đó…” và nhiều lý do để phản bác về con đường hành đạo của người tu sĩ, thế
nhưng cái túi tham-sân-si của người tu sĩ ấy dường như trống rỗng, không còn chứa
đựng thứ rác gièm pha, mọi mũi tên bắn vào sư chỉ là dội ngược, tôi có thể tổn
thương, bạn có thể tổn thương và nhiều người cũng có thể tổn thương nhưng với
sư, dường như nó chỉ là hạt bụi ven đường.
Sự đố kỵ, ganh đua như một mớ ngổn ngang đầy ắp
trong lòng người trần tục, đôi khi nó cũng nấp sâu bên dưới lớp áo của một số người
tu mà tâm chưa xả bỏ ly dục phàm trần. Con người thường hả hê để ném những viên
đá xuống mặt hồ bởi lòng họ động nên họ không muốn nhìn thấy mặt hồ phẳng lặng.
Giữa mớ rối rắm giả tạm, người ta lại cảm thấy bình an, nhẹ nhõm từ một người
tu sĩ chân đất chẳng ở chùa to, Phật lớn, chẳng xe pháo đón đưa, chẳng có pháp
tòa rực rỡ hoa thơm, ngài lan tỏa thông điệp của lòng từ bi bằng một lối thuyết
pháp vô ngôn, tức thuyết pháp không bằng lời nói mà chỉ bằng hành động, và điều
đó hiện diện trong ánh mắt sáng, nụ cười hiền, bàn chân chai sạm bước đi khỏe
khoắn, là lời lý giải giáo pháp một cách giản dị, không tô vẽ cầu kỳ, là lối thực
hành chánh đạo miên mật nghiêm trì. Những điều đó đủ để lay động, đánh thức con
người trong thế giới hiện sinh đang nhiều phức tạp.
Xã hội ngày nay với nhiều người và nhiều tầng lớp
trí thức khác nhau, một quyển sách nhân sinh chỉ đến được với người có tầm trí
thức chuyên sâu, có thời gian để ngồi nghiền ngẫm, nhưng ngoài kia, có những chị
bán cá, bán rau, người công nhân bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, những người
nội trợ phải bù đầu trong chuyện cơm nước chồng con, có người lớn tuổi hạn chế
về thị lực, thị giác để nghe, để đọc, để đi sâu tìm hiểu, thì nơi đó, sư Minh
Tuệ đã đi qua, Ngài đã mang giáo pháp của nhà Phật len vào từng ngóc ngách nhỏ
hẹp trong xã hội, để người công nhân, người nội trợ, cụ già có thể bước ra
ngoài cửa, đảnh lễ, rưng rưng trao từng cái bánh, chai nước cúng dường, là anh
xe ôm, anh xăm trổ chắp tay xúc động, một hình ảnh giản dị của vị sư làm họ muốn
buông bỏ mọi tham đắm hơn thua, sám hối sai lầm, xa rời những rối ren mệt nhọc
để hóa lặng lòng mình mà không phải chỉ đến Chùa mới được.
Giá trị tâm linh hiện lên trong đời sống nhân
sinh xã hội qua hình ảnh vị sư đầu trần chân đất trí dũng, hiền lành chứ không
phải chỉ riêng người ngồi ở pháp tòa thuyết giảng. Giáo lý nhà Phật sẽ chân thật
và tỏa sáng qua sự tiếp biến hành trì để thấy rằng từ bi, trí huệ và buông bỏ
tham đắm tục trần không phải là lời nói suông mà phải được vận hành trong từng
sát na tâm thức.
Khi lòng tin con người bị chênh vênh đến mức đổ
sụp, ngẩn ngơ, bất bình và sợ hãi thì hình ảnh của một người tu chân đất, mang
sự lương thiện độc hành trong thân tứ đại giai không đã là nguồn suối mát vực dậy
niềm tin, sự kính thương của người mộ đạo, để đâu đó chúng ta nhận ra rằng sự
vi diệu trong đạo Phật vẫn tồn tại giữa thế giới hữu hạn này, và có chăng một sứ
mệnh để thay đổi nhận thức con người, vốn đã từng bị ngủ sâu trong mê trầm, bỗng
một ngày trở nên tỉnh thức!?
An Tường Anh
Nhận xét
Đăng nhận xét